Chương 23: Chương 23

6116 Chữ 03/12/2025

Như Ước từ trước đã cho rằng Dư Nhai Ngạn là kẻ âm hiểm, xảo trá. Hắn nói vậy, nàng càng phải giữ ý ba phần, tuyệt nhiên không dám truy hỏi, kẻo mang thêm ân tình. Nhưng nàng lại phụng mệnh mà đến, nếu chẳng hỏi được kết quả gì, khi về khó ăn nói với Kim nương nương.

Bất đắc dĩ, nàng chỉ đành gượng cười, dựa vào chút giao tình mơ hồ: “Cứ xem như là nô tỳ muốn biết đi. Xin đại nhân cho nô tỳ vài phần chỉ điểm.”

Nhu cầu nàng đã đặt ra, Dư Nhai Ngạn tất nhiên thuận theo. Hắn xoay người ngồi vào ghế bành, không vội đáp, ung dung hỏi: “Cô nương cứ đứng đó, để ta ngẩng mặt mà nói với cô nương sao?”

Như Ước hết cách, đành tạ ơn rồi ngồi xuống chiếc ghế dài đối diện hắn.

Khoảng cách giữa họ rất xa, như thể nàng sợ hắn sẽ nuốt chửng mình. Cô nương cẩn trọng đến vậy, quả thật khiến người ta lạnh lòng.

Dư Chỉ huy trước nay vốn nghiêm khắc ít cười, lần này lại gần gũi hơn đôi chút, chống tay lên ghế, nói chậm rãi: “Ta đã nói với cô nương từ trước, lưu lại Vĩnh Thọ cung không phải kế lâu dài. Xem ra cô nương không để lời ta vào tâm. Kim các lão là Thủ phụ Nội các, mà Nội các lại nắm đại cơ mật của Đại Nghiệp. Chỉ sơ suất một chút là vạn kiếp bất phục, xưa nay đều như vậy. Nói thực lòng, tranh đoạt giữa văn thần còn dữ dội hơn võ tướng chúng ta nhiều. Bọn họ tính toán ngày đêm, còn chẳng bằng chúng ta một đao sinh tử cho sảng khoái. Lời dài dòng ta không nói nữa. Khi về đừng nói thật với Kim nương nương. Cứ bảo vụ án này do Hàn Lâm viện phối hợp cùng Cẩm Y Vệ điều tra, Cẩm Y Vệ phải nghe lệnh Hàn Lâm viện. Rò rỉ đề thi Xuân Vi là đại án, triệu hỏi vài lần để làm sáng tỏ đầu đuôi là điều không tránh được. Còn rốt cuộc xử trí thế nào, tất cả nằm trong tay hoàng thượng. Nương nương là người đầu ấp tay gối bên cạnh ngài, muốn hỏi, chẳng bằng trực tiếp hỏi hoàng thượng.”

Như Ước đáp vâng: “Đa tạ đại nhân chỉ điểm, nô tỳ đã biết phải bẩm lại với chủ tử thế nào.”

Nhiệm vụ xem như đã xong, nàng liền chuẩn bị cáo lui. Nàng đứng dậy: “Đại nhân còn nhiều công vụ, nô tỳ xin…”

Lời còn chưa dứt, Dư Nhai Ngạn đã tiếp lời: “Cô nương vừa hỏi xong đã muốn đi ngay, chẳng sợ làm tổn thương lòng Dư mỗ sao?”

Như Ước lập tức toàn thân căng lên cảnh giác, song miệng vẫn phải mềm mỏng xoay chuyển: “Nô tỳ đến vội, lại tay không quả thật có phần sơ suất. Đợi nô tỳ hồi cung, sẽ bảo người mang một ít điểm tâm nhỏ của Vĩnh Thọ cung đến biếu đại nhân…”

Nhưng hắn lại chẳng nhận tình: “Ta đâu phải đứa trẻ ba tuổi, nói hai câu đã đòi cô nương cho quả ăn.”

Nàng ngẩn ra: “Vậy theo ý đại nhân là…”

Dư Nhai Ngạn khẽ cười, giọng lười nhác: “Cô nương trước đây làm việc ở Ty Cục Thêu, đường kim mũi chỉ rất vi diệu, hôm đó ta ở Dưỡng Tâm điện đều thấy. Ta không dám đòi cô nương may áo hay giày tất nhưng cô nương rảnh rỗi làm cho ta một cái túi đựng quạt đi. Lúc ra ngoài bái kiến người ta, mặc thường phục là dùng được.”

Như Ước thầm mỉa: Một võ tướng mà còn học thói văn nhân, dùng cả quạt sao!

Dường như ánh mắt hắn đã nhìn thấu suy nghĩ của nàng, khóe môi hiện ý cười lạnh: “Sao? Như ta đây là một gã thô kệch, chẳng xứng dùng quạt à?”

“Không… không…” Như Ước vội xua tay: “Nô tỳ không có ý đó, đại nhân chớ hiểu lầm. Chỗ chúng nô tỳ may vá nhiều, một cái túi quạt chẳng đáng là gì. Nô tỳ còn có cái đã làm sẵn, nếu đại nhân không chê, ngày mai nô tỳ sẽ bảo người đưa tới.”

Hắn hài lòng, nhưng yêu cầu chưa dừng lại: “Còn phải phiền cô nương thêu tên ta lên, khỏi để lẫn với người khác. Cô nương biết tên ta viết thế nào chứ?”

Vừa nói, hắn vừa cầm bút trên giá, chấm mực rồi viết lên tờ tuyên chỉ, sau đó xoay giấy lại, đẩy tới trước mặt nàng: “‘Kỳ đạo gian trở, nhai ngạn hiểm tuyệt’ Dư Nhai Ngạn.”

Nhưng hai chữ ấy đâu chỉ có nghĩa ấy. Người ta là tự khiêm, nàng không thể thuận lời mà đáp, bèn vòng vo tán tụng: “Nô tỳ tưởng là ‘biểu cách thiên nhận, nhai ngạn vạn lý’ kia.”

Nghe vậy, hắn hơi khựng lại, ánh mắt bỗng sâu thẳm: “Cô nương có đọc sách… mà còn đọc không ít sách nhỉ.”

Tim Như Ước chợt khựng lại, nàng gắng gượng đáp: “Nô tỳ tuy xuất thân thường dân, nhưng nhà cũng không bạc đãi, từng mời tiên sinh dạy chữ, có đọc đôi ba quyển.”

Không biết hắn tin hay không, chỉ thấy hắn trầm ngâm giây lát, rồi nhẹ kéo khóe môi: “Học thức như cô nương mà ở trong cung làm cung nữ, thật đáng tiếc.”

Như Ước lập tức cảm thấy điềm gở, liền cung kính đáp: “Đại nhân quá lời. Bọn nô tỳ vốn khó đặt chân vào nơi tao nhã. Đến tuổi thì bị tuyển vào cung, coi như mở mang tầm mắt. Mai này ra cung cũng có thể giữ được thể diện. Nếu lại được chủ tử thương yêu, phong cho chức nữ quan, thì càng tốt. Khi ấy có vinh hiển trước người đời, tất sẽ nhớ đến những chuyện hôm nay mà cảm khái.”

Dư Nhai Ngạn bật cười: “Ra ngoài nở mày nở mặt, là dựa vào làm nữ quan trong cung, hay dựa vào cái nghề hầu hạ này? Cho dù cô nương thật sự được phong nữ quan, thì ra khỏi cung rồi có thể thế nào? Nhiều lắm cũng chỉ gả cho một viên quan ngũ lục phẩm, làm một phụ nhân giữ việc trong nhà thôi.”

Thật ra, với người như nàng, sống được đến bao lâu còn chẳng biết. Vốn đã chuẩn bị tâm thế cá chết lưới rách, nào từng nghĩ sẽ có ngày đi khỏi cung mà lập gia thất. Những lời vừa rồi về “nở mày nở mặt” chẳng qua cũng là nói bừa cho có cớ.

Cho nên, sự chất vấn của hắn, nàng không muốn sửa lại. Nếu năm đó nhà nàng không gặp họa, cuộc đời nàng đúng như hắn nói tìm một người làm quan để gả, rồi ngày ngày hầu trượng phu dạy con hết thảy chỉ có vậy.

“Ấy…” Nàng cúi đầu, ngượng ngùng nói: “Nữ nhân mà, có được một nơi nương thân yên ổn, đã là thành tựu lớn rồi.”

Dư Nhai Ngạn lại khẽ cười: “Cô nương xứng đôi với quan ngũ lục phẩm? Không thấy ủy khuất sao? Lần trước ta vào Dưỡng Tâm điện, đúng lúc gặp cô nương, tiếc là chẳng nói được câu nào. Trước đây ta đã hỏi cô nương, có dự định lưu lại trong cung lâu dài không. Nay cô nương đổi ý rồi ư?”

Lời này nói vào hơi sâu. Như Ước tuy kiêng dè hắn, biết hắn luôn mang tâm dò xét, nhưng nàng cũng không hoàn toàn ngu độn, mơ hồ hiểu được chút tâm tư không hay ho trong lòng hắn.

Vậy nên chuyện này phải sớm cắt đứt. Mập mờ mãi sợ là sinh họa. Nàng lắc đầu, nói không: “Nô tỳ chỉ mong đến tuổi được ra cung, về nhà phụng dưỡng song thân.”

Đôi mắt Dư Nhai Ngạn hơi khép lại, trong đó là ý thăm dò: “Phụng dưỡng phụ mẫu chỉ là lời ngoài mặt. Cô nương chẳng phải đã có người trong lòng nên mới nhất quyết muốn ra cung đấy chứ?”

Có lẽ… thuận theo lời hắn sẽ có lợi hơn cho mình. Vì vậy nàng không phủ nhận, chỉ hơi cúi mình: “Đại nhân minh giám.”

Một câu “minh giám” mơ hồ kia đã đủ nói rõ.

Dư Nhai Ngạn thoáng có phần thất thần: “Mười năm tròn, người ta có đợi được không?”

Như Ước đáp: “Chỉ cần không phụ lòng mình là được. Nô tỳ không cầu kết quả.”

Nàng vừa nói vừa nhìn ra ngoài: “Cũng đã ở đây bấy lâu, nô tỳ nên hồi cung rồi. Hôm nay đa tạ đại nhân chỉ dạy. Túi quạt đã hứa, nô tỳ sẽ cho người gửi tới sớm. Nô tỳ cáo lui, xin đại nhân không cần tiễn.”

Dư Nhai Ngạn chẳng đáp, nhưng vẫn đứng dậy tiễn nàng ra tận cửa, trông theo dáng nàng khẽ phúc lễ rồi bước qua bậc cửa, dần đi xa.

Lý Địch Nỗ, vẫn nấp sau cột chờ đợi từ nãy, lúc này mới dám bước tới, cúi tay: “Đại nhân.”

Nhưng chưa đợi hắn thưa chuyện, đã nhận được mệnh lệnh mới: “Đi điều tra rõ, trước khi nàng vào cung… có phải từng có thanh mai trúc mã hay không.”

Lý Địch Nỗ “a” một tiếng: “Cô nương có người thích rồi sao? Nếu đã có người, đại nhân còn…”

Nửa câu sau bị ánh mắt của Dư đại nhân chặn ngược trở vào cổ họng.

Lý Địch Nỗ gượng cười, nghĩ ngợi một chút rồi hỏi: “Nếu điều tra được rồi, đại nhân định xử lý thế nào? Giết? Hay bắt vào Chiêu ngục dằn cho một trận?”

Câu hỏi này quả thật đáng ngẫm nghĩ. Lẽ ra, người ta đã nói rõ ý, hắn dù có động lòng cũng nên bỏ xuống. Nhưng hắn lại không như người ta. Hắn là kẻ ngoan cố, đã động tâm thì khó mà buông. Chỉ muốn xem thử “người trong lòng” nàng rốt cuộc là loại gì. Mấy năm qua hắn đơn độc, lần đầu tiên động lòng, làm sao chịu để nàng nói một câu mà phủi sạch? Chỉ mong nàng chỉ thuận miệng bịa ra, nếu không thì vị thanh mai trúc mã kia… e là gặp xui xẻo lớn.

Hắn chắp tay sau lưng, nheo mắt nhìn khoảng sân trống, thản nhiên phân phó: “Tìm cho rõ người đó là ai. Nếu đã có thê tử, đừng làm kinh động. Nhưng nếu chưa lấy thê tử… thì bảo hắn, từ nay không được có bất kỳ qua lại gì với Vệ Như Ước. Nếu hắn không tin, cứ đưa vào Chiêu ngục cho hắn xem bọn ngục tốt hành hình thế nào, rồi để hắn tự suy nghĩ.”

Lý Địch Nỗ vâng một tiếng: “Thuộc hạ đi tìm Tô Mộ Hành. Lão Tô làm việc này giỏi nhất. Chẳng cần vào Chiêu ngục, chỉ một cái tát như quạt mo vào mặt, đảm bảo hắn lăn quay ra đất, còn đâu hơi mà nhớ tới cô nương!”

Nói xong, hắn bước được hai bước thì đột nhiên quay lại hỏi: “Đại nhân, chẳng phải người từng nói đời này không định cưới thê tử nữa sao? Đã thế thì tranh cô nương ấy để làm gì? Định làm tiểu thiếp hay làm thông phòng?”

Dư Nhai Ngạn liếc hắn một cái, đầy bực bội: “Ngươi lo chuyện rộng thật. Thấy sắc mà động, tìm người sưởi ấm chăn gối, chẳng được sao?”

Lý Địch Nỗ nào dám nói “không được”, mặt đầy thịt rung rinh nặn ra nụ cười răng rắc: “Đáng lắm! Đáng lắm!” Dứt lời liền vội cúi tay: “Thuộc hạ đi ngay, khi nào trở về sẽ báo lại chuyện Kim các lão.”

Tên đại hán ấy chạy lên, bước chân nện như trống, thình thịch lao vào hình phòng phía tây.

Khi Như Ước trở lại Vĩռћ 丁Һọ cung, Kim nương nương mong đến dài cả cổ.

Vừa thấy người xuất hiện liền tự mình ra đón, vội kéo nàng vào điện, sốt ruột truy hỏi: “Thế nào? Đã hỏi rõ chưa? Dư Nhai Ngạn nói gì với ngươi?”

Suốt đường về, Như Ước đều cân nhắc xem phải hồi đáp thế nào. Nói quá thẳng, sợ nương nương hoảng hốt, ngã quỵ mất. Nhưng nói quá uyển chuyển, việc này lại không thể giấu nhẹm nếu mai sau bùng lên, nương nương tất sẽ trách nàng.

Nghĩ tới nghĩ lui, vẫn nên nói thật. Nàng đỡ nương nương ngồi xuống ghế bành, rồi mới trầm ngâm thưa: “Nô tỳ nghe khẩu khí của Dư đại nhân không lành. Vụ án này do Cẩm Y Vệ cùng Hàn Lâm viện cùng điều tra. Hắn nói Cẩm Y Vệ nghe lệnh Hàn Lâm viện rõ ràng là đang thoái thác. Nô tỳ lại hỏi sau này có còn triệu các lão vào hỏi không, hắn đáp qua quýt. E là có một thì chắc có hai. Nương nương phải nghĩ cách đi, để tới khi sự đã không thể vãn hồi mới xoay xở, sẽ không kịp. Ý của Dư đại nhân là… nương nương vẫn phải cầu hoàng thượng. Vì cuối cùng vụ án sẽ dâng lên trước ngự tiền, chỉ cần hoàng thượng mở một mắt nhắm một mắt, đại sự liền hóa thành chuyện nhỏ.”

Kim nương nương nghe xong mặt mày sa sầm: “Cầu hoàng thượng… Hôm qua ta đã đi rồi, chẳng phải ngươi cũng thấy sao? Hoàng thượng không muốn để ý tới ta, ta còn chẳng thốt được lời nào. Trời Phật ơi, giờ phải làm thế nào đây? Ta lúc này đầu óc loạn hết cả, chẳng nghĩ nổi kế nào…”

Nhìn cảnh ngộ của Kim nương nương, Như Ước bỗng nhớ đến chính mình thuở ban đầu. Tuy tai họa nhà nàng xảy đến quá bất ngờ khiến nàng chẳng kịp buồn, chẳng kịp tuyệt vọng, nhưng nỗi đau bất lực sau đó nào có khác gì nàng ta.

Làm phận nô tỳ mà muốn bày kế, phải tiến từng bước một. Như Ước gợi ra một cách vụng về: “Nương nương thử kết giao với những người hầu cận bên cạnh hoàng thượng xem, nhờ họ nói giúp một hai câu cho Kim các lão.”

Kim nương nương thê thảm lắc đầu: “Chương Hồi với Khang Nhĩ Thọ là hai cái giếng đổ mãi không đầy. Ta mới vào cung đã muốn gây chút danh trước mặt hoàng thượng, chẳng biết đã nhét vào tay họ bao nhiêu bạc. Hai người đó chỉ nhận bạc, không nhận người. Lần nào cũng đòi, đòi đến ta chán ngấy, sau này dứt khoát chẳng cho nữa. Giờ mà quay lại dây dưa với họ, e dọn sạch cả Vĩnh Thọ cung cũng không lấp nổi cái miệng của họ.”

Lối này cũng tuyệt rồi đành đi đường vòng! Như Ước thấy bốn phía không người, liền nhỏ giọng hiến kế: “Vậy nương nương cứ để các lão tự tìm đường thoát thân… hoặc liên kết với các hoàng tử của tiên đế. Chẳng phải gần kinh thành nhất còn có một vị Chương vương sao?”

Lời nàng vừa dứt, Kim nương nương kinh hãi trợn tròn mắt: “Ngươi nhỏ tí mà gan to đấy! Còn muốn để cha ta làm phản lần nữa? Giờ không giống năm xưa đâu. Hoàng thượng đăng cơ rồi, thu sạch binh quyền của các phiên vương. Chương vương giờ chỉ còn cái danh rỗng, suýt nữa bị tước phiên. Người ta giờ chỉ chăm lo sinh con nối dõi, có cho mười cái gan cũng chẳng dám tạo phản!”

Nghe vậy, Như Ước chỉ càng thêm thất vọng. Trên cánh đất Đại Nghiệp này, đã không còn ai có thể chống lại hoàng đế. Năm năm qua, người ấy đã thu phục hết thảy huynh đệ mang phản cốt trong mình, khiến họ ngoan ngoãn phục tùng. Muốn lật đổ hắn, thật sự là chuyện không thể.

Hai người chìm trong trầm mặc, hồi lâu nhìn nhau một cái, rồi cùng thở dài: “Biết làm sao đây…”

Kim nương nương chống đầu, lẩm bẩm: “Chắc tám phần là vì lần trước ta sai đánh chết cung nữ kia, khiến Văn Hoa điện đại học sĩ ghi hận trong lòng, moi ra vụ án này để trả thù lên cha ta.”

Vừa nói vừa lau nước mắt: “Ta giờ hối hận chết mất rồi. Sớm biết đắc tội lớn như vậy, thế nào cũng không làm liều.”

Như Ước khuyên giải: “Ai biết trước được chuyện phía sau. Mọi thứ đều định sẵn ở một chữ mệnh. Nương nương đừng khóc.”

Kim nương nương khi thì ngửa mặt than, khi thì cúi đầu, lúc lại trừng trừng nhìn nàng: “Ta giờ mù tịt cả rồi, ngươi mau nghĩ cách cho ta!”

Như Ước khó xử: “Nô tỳ chỉ là một tiểu cung nữ, ngoài chạy việc cho nương nương, còn có bản lĩnh gì.”

Miệng nói vậy, nhưng trong lòng nàng không ngừng tính toán. Thấy Kim nương nương ủ rũ bệch mặt, nàng dừng một chút rồi nói: “Nô tỳ từng nghe… Vạn Tuế Gia lúc nhỏ từng được nuôi dưỡng bên cạnh Di An Thái phi. Có phải thế không ạ?”

Kim nương nương như bị chạm đúng chỗ hiểm, đánh mạnh vào tay vịn: “Ấy, đúng là có chuyện đó! Hoàng thượng và tiên Thái tử lần lượt mắc đậu sa, bệnh thập tử nhất sinh. Thái hậu phải chăm sóc Thái tử, nên phó thác hoàng thượng cho Di An Thái phi. Thái phi không con không cái, ngày đêm túc trực bên giường bệnh. Hoàng thượng cảm kích vô cùng. Sau khi bình an, thường sang thăm Thái phi, tình cảm chẳng kém gì với Thái hậu.”

Thế là có đường xoay rồi. Như Ước nói: “Di An Thái phi một lòng hướng Phật. Mỗi năm mùng tám tháng tư, ngày tắm Phật, Thái phi tất mở đại lễ ở Anh Hoa điện. Nương nương đã không lấy lòng được Thái hậu, sao không tìm cách tạo quan hệ với Thái phi? Nếu Thái phi chịu giúp nói một câu… nương nương liền có hi vọng.”

Kim nương nương ngập ngừng: “Có được không? Bình thường Thái phi chẳng qua lại với phi tần trong hậu cung…”

Phải thừa nhận, trước giờ nàng ta hơi quá kiêu căng, nghĩ thái hậu đoan chính còn lạnh nhạt, thì hơi đâu đi xu nịnh Di An Thái phi. Kết quả là đi vào lối cụt, giờ lại định đổi hướng bám vào Thái phi. Người ta đâu có mù lỡ nhận ra dụng ý thì chẳng phải mất mặt sao?

Như Ước lại khuyên giải: “Đã đến nước này rồi, cho dù bị nhìn thấu, thử một phen vẫn hơn ngồi chờ chết. Nay lễ Tắm Phật sắp đến, nương nương có thể giúp Thái phi chuẩn bị đôi chút, qua lại vài lần là thân quen. Chưa cần nói chuyện Kim gia gặp nạn, chỉ cùng Thái phi tán gẫu chuyện ăn uống, chuyện thường ngày, hoặc nói về thuở nhỏ của Vạn Tuế Gia… chuyện gì cũng được. Đợi thời cơ chín muồi rồi hãy thỉnh cầu Thái phi. Thái phi nể mặt cũng sẽ nói giúp vài câu. Dẫu bất kể thế nào, để hoàng thượng thấy nương nương có lòng hiếu với Thái phi, há chẳng khiến người ta nhìn nương nương bằng con mắt khác?”

Nghĩ theo đường này, quả là một vụ làm ăn có lời. Kim nương nương vội đáp: “Anh Hoa điện giờ đã bắt đầu chuẩn bị rồi. Chúng ta chọn ngày Thái phi có mặt mà tới. Ngươi cứ trông xem ta nịnh bợ thế nào, sẽ dỗ bà lão xoay vòng vòng.”

Như Ước mỉm cười gật đầu, rồi hỏi: “Lễ Tắm Phật hôm ấy, Vạn Tuế Gia sẽ đến lễ Phật chứ ạ?”

“Tự nhiên.” Kim nương nương nói: “Hoàng thượng hiếu kính Thái phi. Đêm trước Thái phi phải ở đó tụng kinh, hoàng thượng luôn ở lại tới canh ba. Năm nào cũng vậy năm nấy. Nói thật, trước đây ta lười, chịu không nổi buồn tẻ, lại không quen mùi hương khói trong điện, thường chỉ ló mặt cho có rồi chuồn mất. Năm nay thì khác. Dù chết ta cũng phải bám ở đó. Ngươi phải trông ta, nếu ta có ý trốn, ngươi cứ mạnh tay cấu ta một cái, ta sẽ hiểu.”

Như Ước bật cười: “Nương nương đối với mình thật chẳng nể mặt. Cần gì phải mạnh tay đến vậy.”

Kim nương nương hiểu rõ tính mình người khác gẩy đàn gảy sáo còn nàng thì gõ trống rút lui. Hễ có đường dễ đi là muốn né khổ. Quỳ trên bồ đoàn suốt nửa đêm, nghĩ thôi đã thương đôi đầu gối mảnh mai của mình rồi.

Nhưng chuyện đã quyết, kế hoạch phải thực hiện cho đến nơi đến chốn. Như Ước bảo Trịnh Bảo sang Thọ An cung dò xét, biết Thái phi mỗi ngày giờ Thìn đều sang xem xét. Hôm sau, Kim nương nương liền dậy từ canh năm, chẳng mặc đồ trang sức lộng lẫy, chỉ chọn một bộ áo lụa gấm màu nhạt, đầu cài hai đóa thông thảo, không dùng phấn son, sớm sủa đã đến Anh Hoa điện.

Anh Hoa điện trong ánh ban mai mang một vẻ biệt lập với chốn Tử Cấm Thành. Bình thường chỉ Thái phi và mấy vị Thái tần quá cung mới đến. Những phụ nữ đã mất chồng chẳng còn lòng tranh sủng đấu sắc; tâm tư yên tĩnh, lời nói cũng ôn hòa. Bởi vậy Anh Hoa điện là nơi duy nhất không vương bụi tục, không tranh hơn thua. Bước vào đây như bước vào chùa tâm can bỗng nhiên trong suốt.

Qua khỏi đình văn bia dưới bóng cây bồ đề cao ngút là chính điện Anh Hoa. Giờ này cung nhân bận rộn quét dọn. Như Ước liếc một cái đã thấy Dương Ổn đứng trên nguyệt đài, hơi nghiêng người, dặn dò thái giám nhỏ về việc hương nến và thay phiên trong đêm.

Đợi hắn quay đầu trông thấy họ, lập tức bước nhanh đến, hành lễ với Kim nương nương, giọng ôn hòa cung kính: “Tham kiến nương nương.”

Kim nương nương nhìn hắn kỹ một chút: “Gương mặt lạ quá, mới điều đến à?”

Dương Ổn đáp: “Thuộc hạ được điều từ Tư Lễ Giám sang, chuyên hầu các vị lão nương nương khi vào điện dâng hương lễ Phật.”

Kim nương nương “ồ” một tiếng, ngẩng đầu đi vào chính điện.

Ngước lên trên, pho tượng Phật ở đây cao lớn hơn hẳn bà Phật tổ ở Vĩռћ 丁Һọ cung, mong rằng linh nghiệm.

Vào cửa bái Phật là lệ cũ. Dương Ổn châm ba nén hương, dâng đến trước Kim nương nương.

Kim nương nương tiếp lấy, cúi người hành lễ ai ngờ mới khom được một nửa, thân mình đã đổ ập xuống bồ đoàn.