Chương 5: -

4828 Chữ 12/12/2025

 

Thức Mê nhất thời ngẩn người, có hơi chột dạ đôi chút. Quả thật đó là một nước cờ tính sai.
Nhưng nàng nhanh chóng tìm được lý do nghe cũng hợp lý nên liền biện hộ:
“Không màng thế tục, càng cho thấy quyết tâm lớn. Quyết tâm càng lớn thì càng trân quý những gì khó có được. Dù sao kẻ quyền thế như hắn thì người ta chỉ để tâm đến lợi ích, chứ nào có ai dám chê cười. Hắn đã là Thái sư, thiên hạ này ai dám chọc ghẹo trước mặt hắn?”

Còn chuyện sau lưng thiên hạ có cười hay không – nàng thật chẳng buồn bận tâm.
Dẫu sao, đây cũng không phải là mối nhân duyên thật lòng, có gì mà phải sợ thiên hạ đàm tiếu chứ.

Diễm Điển cuối cùng cũng chất xong “núi táo đỏ”, cẩn thận dán chữ Song Hỷ lên rồi đẩy qua song song với núi đậu phộng của Nhiễm Điển.

Hai người đứng nhìn thành quả vừa làm xong, bốn mắt sáng rỡ, gương mặt hiện lên vẻ vui sướng. Dường như mọi thứ đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ đợi Thái sư tới đón dâu.

“Phải đổi thân trước hay thành thân trước đây?” Nhiễm Điển giơ ngón tay khẽ đếm “Phải có bà mối đến trước, mang thật nhiều tiền đến theo. Khi chúng ta vừa lòng rồi thì bắt đầu chọn ngày lành để rước A Mê vào kiệu hoa, đưa đến bái đường rồi động phòng với hắn.”

Thức Mê nghe hai hình nhân bàn tán mà chỉ biết thở dài cảm khái…

May thay, Nhiễm Điển chỉ là yển nhân, chứ nếu không, đời nàng mà có đứa con gái như thế thì chẳng biết có thể gả cho ai, bởi người muốn cưới được Nhiễm Điển ắt phải chuẩn bị cả một gia tài nhỏ mới dám bước qua cửa.

Còn nàng thì khác – nàng chẳng mong cầu gì, chỉ cần được bước vào phủ Cửu Chương thì thế nào cũng được.

Cớ sao lại mang chấp niệm ấy, chuyện này còn phải nói lại từ đầu.

Năm nàng sáu tuổi, theo sư phụ lên Linh Dẫn Sơn.

Hôm nàng rời nhà, chính là ngày thành Trọng An đặt viên gạch đầu tiên.
Ngu Vương khi ấy hạ quyết tâm rất lớn, huy động khắp cả bốn phương, lại kéo dài suốt mười năm trời tiêu tốn vô số nhân lực, vật lực, mới dựng nên tòa thành vĩ đại này.
Chỉ tiếc vận mệnh chẳng dài lâu. Thành còn chưa kịp đổi vận cho Ngu triều thì chỉ trong hai ba năm đã bị bốn phương cường quốc như sói rình mồi, cuối cùng thành thất thủ rơi vào tay của người Yến quốc, trở thành phó đô của Yến triều.

Là phó đô, địa vị chỉ thấp hơn Bạch Ngọc Kinh nửa bậc. Thức Mê vốn muốn ở gần để quan sát đám quyền quý nơi đây, xem họ có gì khác biệt hơn so với người Ngu trước kia.
Nhưng tiếp cận từng người một thì mất thời gian lắm, lại đứng từ mặt đất ngước lên đỉnh cao ấy chẳng biết bao giờ mới tới được.
Vì vậy, nếu có thể tiếp cận Thái sư Lục Mẫn, vị quan to bậc nhất triều thành thì cho dù muốn xem cả triều xếp hàng trước mắt nàng cũng chẳng có gì khó.

Cho nên kết thân bằng cách nào không quan trọng, có sính lễ hay không cũng chẳng đáng kể, chỉ cần hắn gật đầu thì nàng sẵn sàng theo hắn về ngay hôm nay.

A Lợi Đao mới học viết chữ tháng trước, nên hôm nay bày biện giấy mực ngay ngắn, định viết hôn thư và vài tấm thiệp mời cho hôn lễ.

“Lục Mẫn và A Mê…” Hắn viết đến chữ thứ tư thì dừng, nghiêng đầu hỏi:
“A Mê họ gì?”

Diễm Điển đáp chắc nịch:
“Tất nhiên là họ A rồi, còn hỏi làm gì!”

Nhiễm Điển phản bác:
“Ai lại mang họ A! Ta thấy phải họ Mê mới đúng. Ở phố bên có gã bán bánh mạch hồ họ Trịnh, người ta vẫn gọi là A Trịnh đấy thôi.”

A Lợi Đao nhíu mày, càng thêm lúng túng:
“Rốt cuộc là họ A hay họ Mê? Chúng ta quen nàng bao lâu nay vậy mà chưa từng biết tên họ thật của nàng.”

Hai yển nhân mỗi người một ý, bắt đầu tranh cãi ầm lên.

Cuối cùng Thức Mê chịu không nổi nữa lên tiếng cắt lời:
“Ta họ Giải. Không phải ‘Tạ’ trong ‘cảm tạ’, mà là ‘Giải’ trong ‘giải khai’.”

Ba người đồng loạt tròn mắt rồi bối rối ngẫm nghĩ, một lát sau lại gật gù:
“Vậy ngươi là Giải Tạ Mê.”

Thức Mê chỉ biết thở dài.

Không thông linh thức thật là một sai lầm lớn nhất – trí tuệ kém đến nỗi nghe sao hiểu vậy.
“Không phải Giải Tạ Mê mà là Giải Thức Mê. ‘Giải’ trong giải khai, ‘Thức Mê’ là mong đạt được đại trí tuệ, có thể hiểu rõ huyền vi đạo pháp.
Ông ta, cha ta, mong ta thấu suốt mịt mờ, đạt tới thiên đạo. Nên khi ta vừa sáu tuổi đã đưa ta lên núi nhập thiền, học đạo tu tâm.”

Đây là lần đầu tiên Thức Mê chịu kể với họ về quá khứ của mình.

A Lợi Đao tò mò hỏi:
“Vậy sao ngươi không thành tiên? Lúc tu đạo có gặp chuyện chẳng lành ư? Yển sư chắc chắn là sư phụ ngươi, thấy ngươi chết uổng quá nên mới tạo ra thân xác này khiến ngươi sống lại.”

Thức Mê liếc họ một cái, vẻ mặt đầy chán ngán:
“Ở vị trí nào thì làm việc vị trí ấy. Là yển nhân, các ngươi phải hiểu bí mật của chính mình mới đúng. Tim đã ngừng đập thì có đặt vào thân xác bằng xương bằng thịt cũng vô ích. Ta chưa từng chết, đừng ở đó mà rủa ta.”

Diễm Điển, trong đám yển nhân vốn có tính hiếu kỳ nhất, bèn rón rén lại gần khẽ hỏi:
“A Mê, vậy tại sao ngươi lại muốn đổi thân xác? Cái trước là già rồi, hay là hỏng mất rồi?”

Thức Mê chỉ cảm thấy đầu ong ong, chẳng muốn trả lời nữa. (caĶ꘥oทիo.coጢ)
Nàng quay lưng bỏ đi để hai tay giấu ra sau lưng, rồi cúi xuống bên hồ cá ngồi yên lặng nhìn đàn cá bơi lượn trong nước.

Nhiễm Điển nhìn theo, tự mình rút ra kết luận:
“A Mê nhất định là rất già rồi, có lẽ hơn trăm tuổi. Vì thế nàng mới nghĩ bọn ta ngốc nghếch, chẳng hiểu nhân tình thế sự.”

A Lợi Đao thì không bận tâm:
“Các ngươi xem ta viết hôn thư này thế nào: Lục Mẫn và Giải Thức Mê kết thành phu thê. Từ nay mèo chuột chung hang, hổ dê đồng tâm, cát khô nắm chặt, vĩnh viễn chẳng lìa xa.”

Diễm Điển nhíu mày, trầm ngâm hỏi:
“Những câu này… toàn là lời tốt sao?”

A Lợi Đao nghiêm nghị đáp:
“Đương nhiên rồi, ta chép từ văn bia trong hang đá Tây Sơn ra đấy. Trên đó còn viết rằng phải mời hai bên cha mẹ, sáu thân họ hàng cùng đến chứng giám.”

Nhiễm Điển nghe vậy chỉ khẽ thở dài:
“Trong hang Tây Sơn, thứ ngươi thấy là hưu thư đấy. Phía sau còn mấy câu nữa cơ: nếu trái giao ước mà đi ngoài phố còn liếc mắt đưa tình, nhớ đến người cũ thì sẽ bị thiên lôi đánh chết.

Diễm Điển nhìn A Lợi Đao đầy thương hại:
“Thôi, hôn thư này chớ viết nữa. Nếu A Mê thấy thì e rằng sẽ thay thiên lôi đánh chết ngươi mất.”

Nghe thế, A Lợi Đao không nói một lời mà chỉ lặng lẽ vo tròn tờ giấy rồi nhét vào trong tay áo.

Ba yển nhân không còn việc gì làm liền đi tới đứng sát sau lưng Thức Mê, rướn cổ chen nhau nhìn xuống hồ nước:
“Tối nay ăn cá không?”

“Đừng có mơ mà đụng vào cá của ta.” Thức Mê lạnh giọng cảnh cáo, tay vẫn rắc từng nhúm thức ăn thả xuống nước.

A Lợi Đao thấy nàng buồn bã, liền hỏi:
“Ngươi sao thế, A Mê? Lo Lục Mẫn không tới, sợ mình chẳng gả được à?”

Thức Mê thở dài, lẩm bẩm:
“Lần tới ta phải nói với yển sư, tốt nhất là đừng làm miệng cho yển nhân nữa. Có miệng mà chẳng nói được lời nào ra hồn.”

Ba yển nhân ngẩn người nhìn nhau:
“Như thế không ổn đâu, không có miệng thì hóa thành yêu quái mất.”

Nhiễm Điển chống tay lên gối, cúi đầu hỏi nhỏ:
“Ngươi có phải nhớ nhà rồi không? Bọn ta không có họ, còn ngươi thì có. Người nhà ngươi ở đâu? Sao ngươi không đi tìm họ?”

Nhắc đến “người nhà” thì Thức Mê thoáng lặng người.

Đó là chuyện của rất nhiều năm về trước.

yển nhân vốn đơn thuần, thẳng thắn, không hiểu thế nào là né tránh hay giữ ý nên thường hỏi trúng chỗ đau của người khác. Nhưng chính vì vậy mà khi ở bên họ, Thức Mê mới thấy lòng mình thanh thản – không cần dè chừng, không cần giấu giếm.

Nàng đứng dậy, phủi tay rồi nói khẽ:
“Trọng An thành vốn là nhà của ta, chỉ là ta ít khi ở đó. Người nhà ta đều thích Bạch Ngọc Kinh hơn. Ta chẳng từng nói rồi sao, sáu tuổi ta theo sư phụ lên núi tu hành, hơn mười năm rồi không gặp lại họ.
Sau này nghe tin họ mất cả rồi thì ta trở về, nhưng đến gặp mặt lần cuối cũng không thấy được. Giờ ta đã không còn người thân nữa.”

Ba yển nhân cùng “ồ” lên:
“Không sao đâu, bọn ta cũng chẳng có người thân. Ngươi có thể xem bọn ta như người nhà mà.”

Lời nói ngốc nghếch nhưng lại khiến tim người nghe ấm lên.

Thức Mê khẽ cười:
“Thế thì ta phải nhờ Yển sư cứ ba ngày lại nối mệnh cho các ngươi một lần. Có người nhà thì thật tốt. Nhưng như thế cũng sẽ tốn sức của Yển sư lắm, lát nữa ta sẽ mua hai con gà để nấu canh bồi bổ cho Yển sư.”

Nhắc đến Yển sư là ba yển nhân đều im lặng.

Bọn họ được tạo ra từ bàn tay của Yển sư nhưng chưa từng thấy mặt người ấy bao giờ.
Chỉ một lần duy nhất là qua tấm bình phong, lờ mờ thấy một vạt áo thấp thoáng.
Yển sư cũng chẳng mở lời, mọi mệnh lệnh đều do A Mê truyền lại.

Song, những điều ấy họ không mấy bận tâm.
Bởi với yển nhân thì thời gian tồn tại vốn hữu hạn, mà trong khoảng sống ngắn ngủi đó thì họ chỉ biết chuyên tâm hoàn thành mệnh lệnh được giao – làm xong rồi thì liền gục ngã, chẳng có tiếc nuối gì.

Những ngày được rảnh rang như hôm nay thật chẳng có bao nhiêu. Có lẽ vì A Mê sắp gả đi nên trong nhà phải có chút náo nhiệt cho hợp lễ.
Núi đậu phộng, núi táo đã chất xong, đèn lồng cũng đã treo đầy; rảnh rỗi thì đi quét sân, tiện tay thì tưới cả hoa.

Trong lúc A Lợi Đao còn đang cân nhắc xem thành thân có nên bày tiệc rượu hay không thì bên ngoài bỗng vang lên tiếng gõ cửa.

Vốn dĩ bọn họ ít giao tiếp với người bên ngoài, nay đột nhiên có khách đến thì cả đám lập tức cảnh giác.

A Lợi Đao trầm giọng quát:
“Ai đó?”

Bên ngoài có tiếng đáp:
“Thuộc hạ La Giới, phụng mệnh từ phủ Cửu Chương đến bái kiến, xin gia chủ mở cửa tương kiến.”

“Chủ nhân?” Chủ nhân là Lục Không Sơn, giờ vẫn còn nằm yên trong chiếc rương kia!

A Lợi Đao ngoảnh lại nhìn Thức Mê, ánh mắt dò hỏi không lời.

Thức Mê phất tay ra hiệu lùi ra rồi chính nàng bước tới mở cửa, mỉm cười dịu dàng nói:
“Gia chủ đã ra ngoài thăm bằng hữu rồi, mời khách nhân vào trong trò chuyện.”

La Giới khẽ cúi mình đáp lễ, vừa ngẩng đầu lên thì liền sững người trong tức khắc.
Trước mắt y là dung nhan của người mỹ nhân đẹp tựa như châu như ngọc làm choáng ngợp tầm mắt.
Dù từng thấy không ít nữ nhân Tây Vực có dung mạo đậm nét, song vẻ đẹp của nàng lại là loại thanh hòa mà sáng rỡ, giống như ánh hào quang nơi tượng Phật – rực rỡ mà không chói lóa, tĩnh tại mà không lạnh lẽo.

“Thất lễ, xin hỏi tiểu thư có phải danh xưng là Hà Phương?”
Hai mắt La Giới dường như không rời được dung nhan ấy.

Lúc này Thức Mê mới sực nhớ – trong mắt bọn họ, nàng mang danh là Lục Hà Phương.
Nàng hơi nghiêng người, giọng mềm mại mà vẫn giữ lễ:
“Phải, ta là Lục Hà Phương. Chẳng hay vị đây từng nghe qua tên ta?”

Nghe qua? Sao có thể chưa từng nghe qua.
Nàng chính là “đường muội” của Thái sư, là người mà Yển sư đích thân chỉ định gả cho Thái sư.

Lần trước y đến phủ họ Lục chưa từng thấy qua mặt nàng nên cứ nghĩ chỉ là một hình nhân được Yển sư chế tác, chẳng đáng để bận tâm. (caĶ꘥oทիo.coጢ)
Thái sư đường đường là bậc trọng thần, sao có thể chịu bị ép phải cưới kẻ xuất thân mờ ám?

Ban đầu y còn định thừa cơ mà mặc cả đôi chút.

Nhưng nay khi tận mắt nhìn thấy nữ tử trước mặt thì mọi ý nghĩ chống đối đều tan biến như khói sương.

La Giới thậm chí còn len lén cảm thấy, nếu buộc phải chấp nhận sự giám thị của Yển sư mà lại được ở cạnh đôi mắt này thì cũng coi như không uổng.

Hai bên mép của y khẽ nhếch lên, nụ cười hòa nhã dần hiện rõ:
“Lần trước tại hạ đến thăm mà cô nương không có ở phủ. Tại hạ đã sớm nghe danh của cô nương, nay hữu duyên gặp mặt quả thật là phong thái phi phàm.”

Vừa nói, y vừa đưa mắt nhìn sâu vào trong sảnh:
“Xin hỏi, Yển sư có ở đây không? Tại hạ phụng lệnh Thái sư đến bái kiến, có chuyện quan trọng cần bàn bạc.”

Thức Mê tuy vẻ ngoài đoan trang dịu dàng nhưng trong giọng lại mang nét kiêu ngạo lạnh nhạt:
“Yển sư không gặp người ngoài. Hôm nay e rằng vị đại nhân đây đến uổng công rồi. Nhưng nếu Thái sư có điều muốn truyền đạt thì ta có thể thay mặt chuyển lời. Không biết như vậy có tiện cho đại nhân không?”

La Giới hơi do dự, rồi nói:
“Cô nương là người thân cận bên cạnh yển sư, nói với cô nương cũng như diện kiến ngài ấy vậy. Không biết cô nương có nghe nói, hiện tại trong phủ Cửu Chương đang giữ một yển nhân không?”

Thức Mê gật đầu:
“Đã nghe qua. Người chưa về mà Thái sư cũng không phái người truy bắt. Chuyện này quả thật cần một lời quyết định, đại nhân cứ nói thẳng không sao.”

Thấy nàng thẳng thắn, La Giới cũng liền bỏ lối quanh co ,mà mỉm cười đáp lời:
“Là thế này, ‘người’ đã ở phủ Cửu Chương thì không cần phí công đưa trả nữa. Đêm nay, Thái sư sẽ mở tiệc, đặc biệt thỉnh Yển sư đến dự.
Phiền cô nương thay lời chuyển đạt: Thái sư đang chờ Yển sư trong phủ, cung kính nghênh đón đại giá của ngài.”

Đôi mắt đẹp của nàng nhẹ chớp, ánh nhìn lay động như nước, mang theo vài phần bất đắc dĩ:
“Yển sư vốn không có thói quen ra ngoài dự tiệc. Tuy rất tôn trọng Thái sư nhưng phép tắc này không thể phá. Nếu Thái sư thật lòng có thành ý thì đêm nay đúng giờ Tý, xin mang theo Tiểu Ngũ, một mình đến gặp người.”

Nói đến đó, La Giới liền hiểu – phàm đã là kẻ nắm sinh mệnh người khác trong tay thì quả nhiên chẳng hề biết sợ là gì.

Cũng may là chưa có biến cố nào xảy ra, nếu thương lượng không xong thì vẫn còn đường mà rút lui.

Y cúi đầu, tỏ vẻ đồng thuận:
“Cũng phải, việc này vốn đâu nhỏ, tất nhiên cần phải chuẩn bị chu đáo. Thái sư ắt sẽ hiểu được nỗi khó xử của người.”

Nghe ra là kẻ cầu người giúp, vậy mà vẫn ra vẻ cao cao tại thượng – đúng là bản chất của kẻ cầm quyền.

Thức Mê chẳng buồn để ý, chỉ bình thản đáp:
“Đúng là cần chuẩn bị. Yển sư hiểu Thái sư có chỗ bất tiện nhưng chuyện này là chuyện hệ trọng, chỉ có thể mong Thái sư tạm chịu nhọc.
Ngoài ra, Yển sư còn dặn thêm: trong mười ngày tới mong Thái sư không ra ngoài gặp ai, cũng không xử việc triều chính. Xin quý phủ sớm sắp xếp.”

La Giới liên tục gật đầu:
“Dĩ nhiên, dĩ nhiên. Mọi sự đã được thu xếp từ trước, đảm bảo để Thái sư được an tâm tĩnh dưỡng.”
Nói đến đây, y ngừng một chút rồi hỏi:
“Vậy người hầu hạ bên cạnh, Yển sư có sắp đặt ai không? Thuộc hạ theo hầu Thái sư nhiều năm, có thể ở gần để tiện chăm nom.”

Thức Mê nhẹ lắc đầu:
“Không cần. Đã đến đây thì tự nhiên sẽ có người hầu hạ chu đáo.”

La Giới vẫn chưa yên tâm:
“Chỉ sợ người ngoài không biết tường tận, e để xảy ra sơ suất...”

Lúc này người thiếu nữ mới hơi cau mày, giọng điệu trở nên lạnh nhạt hơn:
“Vậy phiền tiên sinh chuyển lời lại cho Thái sư: trước hãy cưới ta rồi sau đó đổi thân. Khi ấy ta đã là người nhà cũng chẳng phải người ngoài nữa, còn lo gì sơ suất?”