Chương 4: -

5437 Chữ 12/12/2025

  

Thành Trọng An.

Những tòa nhà nơi đây lúc nào cũng mang dáng vẻ to lớn đến mức phô trương.

Trên vùng đất mênh mông này từng tồn tại năm quốc: Tĩnh, Sính, Ngu, Ân, Yến.

Trong đó, nước Tiền Ngu là quốc gia giao hảo mật thiết nhất với Tây Vực. Mà ở Tây Vực ấy, từ xa xưa đã là một nơi mang màu sắc thần bí. Khi pháp thuật và vu thuật thịnh hành thì người ta đem tín ngưỡng kỳ dị hòa vào từng viên gạch, lợp nên từng mái ngói. Vì vậy, thành Trọng An mới có những tượng thần được xây lên cao ngất mang màu sắc trắng xóa như từ trong huyền thoại bước ra. Lại có những lầu gác chập chùng vươn mình trên không trung, tưởng chừng như giao nhau giữa mây trời.

Thế nhưng, phô trương quá mức chưa bao giờ là điều tốt.

 

Để kiến tạo nên “thần vực” trong tâm tưởng của Ngu Vương thì nước Tiền Ngu đã dốc toàn lực quốc gia để xây dựng nên tòa thành khác biệt ấy. Cũng chính vì sự khác biệt đó mà nó khiến cho các chư quốc đều phải dõi nhìn – và cuối cùng, thành vỡ nước vong, Trọng An biến thành phó đô của Yến triều.

Yến Vương từng nói: “Thành này quỷ dị mà xa hoa, giữ lại thì sinh họa mà phá đi lại đáng tiếc. Vậy cứ sửa sang lại, đổi sang công dụng khác.”

Công dụng ấy thấy vậy mà lại trọng yếu vô cùng, nên phải cần một người đáng tin nhất thủ trấn giữ nơi đây.

Khi ấy, triều đình đang thời luận công ban thưởng nên chẳng ai muốn nhận nhiệm vụ này. Thế mà Lục Mẫn dâng sớ xin đi, khiến cho mọi người đều giật mình sửng sốt. Yến Vương do dự hồi lâu nhưng vì Lục Mẫn đã quyết chí, nên cuối cùng cũng gật đầu chuẩn tấu.

Trước khi tới thì mọi việc đều bình thường; nhưng khi đặt chân đến nơi đây thì mới biết thành Trọng An kỳ dị như chính dáng vẻ của nó. Thành nằm trên một vùng đất cao, phía Nam là Thái Hư, phía bắc là Âm Sơn, mà khí hậu thì lại thay đổi chỉ trong một chớp mắt. Khi thì trời trong mây tạnh, khi lại mây đen che kín tối sầm như màn đêm buông. Dân trong thành sớm đã quen với điều ấy, hễ cứ thấy trời biến sắc là lập tức thắp đèn. Trong thoáng chốc, ngàn vạn ngọn đèn treo lơ lửng giữa không trung kết thành một vẻ đẹp huyền ảo khó tả. Trên những mái lầu cao, các chủ tiệm nghiêng người ra khép cửa sổ, còn xa xa thì kiệu hoa của Thái sư đang chầm chậm đi qua con ngõ hẹp.

Trong nghị sự đường của phủ Cửu Chương, các quan thần đều đã tề tựu chờ sẵn để trình báo tiến độ xây dựng và công vụ triều đình – công việc thường nhật mỗi ngày.

Chỉ là hôm nay, lại có thêm một vụ án khá giải. Tướng quân Hổ Khôi Vệ thề sống ලჩếቲ phải phá cho được: “Đợi khi bắt được yêu nhân thì, nhất định sẽ trói hắn dựng cờ giữa quảng trường!”

Lục Mẫn cúi mắt không đáp. Ngài khẽ khép lại quyển tấu trong tay, ngón tay hơi run chẳng đủ lực, liền giấu bàn tay vào trong tay áo như thể chẳng có gì xảy ra.

“Kẻ giả dạng hôm qua đã bị thiêu hủy để tránh hậu họa về sau. Truyền cho dân biết, nếu phát hiện ai chết rồi mà sống lại thì lập tức trình quan, tất sẽ có trọng thưởng.”

Bắt được yển sư không quan trọng, quan trọng là không thể để yển nhân xuất hiện thêm trong thành. Những thân xác trống rỗng ấy, nếu không nghiêm trị thì sớm muộn gì cũng sinh biến lớn.

Hổ Khôi Vệ lĩnh mệnh lui ra.

Ngoài chuyện đó thì điều nghiêm trọng nhất lúc này là thiếu người xây dựng.

Do Thái sư xưa nay luôn dùng chính sách hòa hoãn nên các quan giám công không dám dùng biện pháp cứng rắn. Tướng quân Ngân Lâm Vệ khó xử tâu: “Nếu cứ thế này thì e là công trình sẽ chậm trễ. Đại lộ thần đạo phải hoàn tất trong hai tháng mà giờ mới chỉ được một nửa.”

Giọng Lục Mẫn vẫn nhạt nhòa, không nặng không nhẹ:
“Chỉ biết đàn áp thì có ích gì. Khi cần thì hãy dùng người để trị người. Chuyện ấy chẳng lẽ còn cần ta phải dạy? Giữ lại tiền công của kẻ mù quáng nghe theo để chia thưởng cho kẻ cầm đầu. Ai gây rối càng lớn thì thưởng càng nhiều. Những việc còn lại không cần can thiệp. Qua ba đến năm ngày sau, kẻ hiểu chuyện sẽ tự khắc quay lại làm việc.”

Tướng quân Ngân Lâm hơi bất an, khẽ hỏi:
“Nếu bọn họ vẫn không quay lại thì sao?”

Lục Mẫn chỉ cười nhẹ:
“Không quay lại thì cũng chẳng thể cưỡng cầu. Ưu đãi thợ xây thần đạo vốn là quy định từ trước, không cần ta phải nhắc.”

Ngân Lâm ngẩng lên nhìn, thấy thần sắc Thái sư bình thản như nước, không hề có chút dao động nào. Nhưng trong những lời tưởng như ôn hòa kia lại ẩn chứa bao nhiêu lưỡi dao bén ngót.
Quả thật, xây thần đạo cần được đối đãi tử tế với những người lao khổ. Nhưng nếu họ không còn là người lao khổ thì liệu còn cần sự khoan nhượng nữa không?

Tướng quân Ngân Lâm hiểu ra liền đáp lời dứt khoát. Thấy mọi việc đã được xử trí xong xuôi, Lục Mẫn đứng dậy không nói thêm một câu, tự mình rời khỏi nghị đường.

Gió lùa qua thổi lất phất bên tóc mai khiến vành tai người căng lên tê buốt. Ngài nhẫn nhịn không đưa tay lên chạm. Khi đi ngang hành lang thấy cánh cửa phòng khép kín thì ngài bỗng dừng lại, trầm ngâm giây lát rồi bước đến trước cửa.

La Giới vội tới hành lễ, cung kính xưng:
“Chủ công.”

Lục Mẫn dường như không nghe thấy, chỉ đẩy cửa bước vào trong.

Cánh cửa sau lưng lại khép kín lần nữa.
Những người hầu bên cạnh ngài đều hiểu ý – biết khi nào nên xông pha trận mạc và khi nào cần lặng lẽ biến mất không một tiếng động.

Trong phòng vẫn thắp sáng đèn, ánh lửa hắt lên bốn bức tường chạm khắc hình chim hỉ thước bằng đồng khiến từng đường nét gồ ghề của kim loại phản chiếu thành bóng sáng chập chờn. cakhonho.com Trên chiếc trường kỷ phủ màn, dẫu tấm vải đã che kín thì vẫn có thể lờ mờ nhận ra dáng người nằm đó.

Ngài bước đến, đứng trầm ngâm bên giường một lát rồi đưa tay kéo tấm vải phủ ra.
Ánh mắt rơi xuống thân thể đang lặng yên bất động.

Có lẽ… không thể gọi là “người”. Bởi vì không hơi thở, không nhịp tim – cùng lắm cũng chỉ là một con rối hình nhân.

Lục Mẫn rất ít khi soi gương, thậm chí trong ký ức cũng cảm thấy chính bản thân mình đã không còn nhớ rõ. Thế nhưng khi nhìn thấy kẻ giả nhân kia thì hắn lại có cảm giác thân thuộc đến kỳ lạ – hóa ra, hình nhân ấy chính là bản sao của hắn.

Trên thư án, một cành gạc nai treo mũi tên lủng lẳng, đó chính là mũi tên mà hai năm trước đã xuyên thẳng qua ngực của Trung đô Tiết độ sứ Trương Khiêm.

Ngày ấy, thành Trọng An bị vây suốt lâu ngày chưa hạ được, Trương Khiêm là đối thủ đáng gờm nhất mà hắn từng gặp.
Một đối thủ đáng kính, tựa như tri âm, khiến hắn từng ngày đêm khắc khoải nhớ đến. Hắn vẫn cho rằng – được chết nơi sa trường mới là kết cục xứng đáng nhất của một vị Tướng quân.
Nhưng khi thành thất thủ, Trương Khiêm vẫn còn sống. Trong khoảnh khắc ấy, hắn bỗng mất đi toàn bộ sự hứng thú, chỉ lạnh nhạt buông lệnh để thuộc hạ đem người kia ra làm bia, bắn đến khi máu thịt nát tan.

Hắn rút mũi tên xuống, nhẹ chạm vào đầu tên rồi khẽ khẩy mở vạt áo của hình nhân.

Bàn tay của yển sư quả thực tài tình. Da thịt, xương cốt, từng chi tiết một đều tạo ra một cách cân xứng, tự nhiên như thật.

Hắn vẫn nhớ rõ thân hình mình bốn năm về trước – vóc dáng, tư thế, từng đường nét – chẳng khác nào như vậy.
Chỉ có một điều khác biệt: nơi hõm cổ hắn từng mang một vết sẹo nhỏ – là dấu dao đâm khi bị ám sát. Còn thân thể này thì mới tinh, không một tì vết, hoàn mỹ đến đáng sợ.

Chỉ tiếc rằng nơi ngực trống rỗng như một hố sâu không có đáy.
Cấu tạo bên trong bị giấu kín không thể nhìn rõ được, chẳng biết có mạch máu hay cơ thịt hay không. Nhưng khi đầu tên chạm vào thì lớp da ấy có độ đàn hồi như da thật, không hề giống vật chết chút nào.

Còn chính thân thể hắn… lại đang từng ngày một mục rữa, sụp đổ đi, mà không có cách nào ngăn lại được. Có lẽ chỉ mười ngày, nửa tháng nữa thì mọi thứ sẽ kết thúc.

Vậy thì, vinh quang nửa đời trước có đáng là gì?
Hai mươi bảy năm đời người, ngắn ngủi như một vệt sao băng bayt giữa trời đêm. Còn cơ nghiệp muôn đời của Yến triều – đã chẳng còn liên quan gì đến hắn nữa.

Mũi tên trong tay hắn buông xuống, không phải vì bi thương mà là bởi vì không còn đủ sức để cầm nổi.

Hắn tiện tay ném sang một bên, trấn định lại tâm thần rồi xoay người bước ra khỏi gian phòng tối.

La Giới đã đứng chờ sẵn ngoài cửa, dâng lên một phong thư:
“Thánh thượng có thư tay gửi đến, xin Chủ quân xem qua.”

Lục Mẫn đón lấy thư, mở ra xem.

Từng nét chữ mang theo sự quan hoài của Đế vương: hỏi han sức khỏe, dặn hắn ăn uống điều độ.
Song, ẩn dưới những lời thăm hỏi ân cần ấy vẫn là quốc sự – hỏi hắn chọn ai làm tướng thủ biên quan, hỏi sau khi năm nước quy về một mối thì có nên nhân lúc đang thắng thế mà tiến quân về phương Tây.

Cuối thư, ዚ໐àኪဌ đế lại dặn dò thêm: mong Thái sư bảo trọng, bởi ngay cả Quân vương cũng không thể thiếu đi một người thầy và bằng hữu như hắn.
Tháng sau, đợi Thái sư hồi kinh, vua tôi cùng nâng chén để luận bàn thiên hạ.
Phủ Thái sư ở Thượng Kinh cũng đã được đích thân bệ hạ chỉ đạo xây cất xong xuôi; nếu Thái sư muốn ở lại dưỡng thân thì Trung Đô sẽ có người khác thay thế.

Hắn khẽ chớp mắt, gấp thư lại, đưa trả:
“Bảo Thẩm đài soạn tấu thư hồi đáp – tâu rằng việc kiến thiết Trung Đô đang tiến triển thuận lợi, thần so với năm trước đã khá hơn nhiều, xin bệ hạ chớ lo.”

Còn chuyện về kinh dưỡng bệnh thì chẳng cần thiết.

Khi hắn xin tự nguyện đến Trọng An, thực chất là để rút lui sau công danh và cũng là để không ai có thể nhìn thấy thân thể đang mục nát này.
Từng là người quyền cao chí lớn, nay đến việc đi lại cũng đã trở nên khó khăn.
Nếu độc thật sự vô phương cứu thì thà chết lặng lẽ ở nơi vắng người, còn hơn là ngã xuống giữa muôn vàn ánh mắt – chí ít vẫn còn giữ được tôn nghiêm.

La Giới là người hiểu rõ bí mật ấy – trong hàng trăm thuộc hạ, chỉ có y là người duy nhất biết được.
Một phần là vì y xuất thân ngoại tộc, ở Trung Đô và Thượng Kinh đều không có thân thích, càng chẳng có kẻ đáng để y tiết lộ nửa lời.

Y cúi đầu lĩnh mệnh:
“Thuộc hạ sẽ lập tức chuyển lời cho Thẩm đài.”

Bước chân vừa nhấc lại chần chừ trong giây lát, dè dặt nói:
“Chủ quân, kẻ yển sư kia tay nghề phi phàm. Nếu thật sự có cách, sao Chủ quân không thử? Y có thể tạo ra một hình nhân thì ắt cũng có thể làm ra cái thứ hai. Nếu rơi vào tay kẻ có dã tâm...”

Lời chưa dứt, đã chạm phải ánh nhìn của Lục Mẫn. Ánh nhìn ấy mang theo tia lạnh nhạt mà sâu thẳm:
“Bổn tọa tự có tính toán. Ngươi, nói quá nhiều rồi.”

La Giới giật mình, vội cúi đầu đáp:
“Thuộc hạ biết tội.”
Không dám nán lại thêm khắc nào, y vội vã quay người rảo bước về phía Thẩm đài.

Lục Mẫn dõi theo bóng người kia dần đi xa, cho đến khi chỉ còn là một chấm đen nhỏ tan biến ở nơi cuối con đường lát bạch ngọc.

Người biết chuyện mang tâm lo lắng ấy cũng là điều dễ hiểu. cakҺoทho.coണ

Bởi hắn từng đọc qua một cuốn cổ thư ghi chép về các thuật pháp huyền bí trong thiên hạ, trong đó có chép về nghệ thuật tạo người của yển sư.

Thân xác và linh hồn vốn chẳng thể tùy tiện ghép vào nhau. Yển sư có thể chế tạo vô số yển nhân để điều khiển, nhưng dẫu kỹ nghệ tinh xảo đến đâu thì chúng cũng chỉ có thể hoạt động được một hai ngày, coi như đã đạt tới cực hạn.
Muốn khiến hình nhân thay thế hoàn toàn người thật thì điều đó chỉ có thể xảy ra khi thu phục được nhân tâm.

Khi linh hồn hòa cùng thân xác thì hình nhân ấy sẽ bắt đầu vận hành huyết mạch, khiến khí huyết lưu thông rồi dần dần đồng hóa với chủ nhân. Thời gian qua đi, ngay cả móng tay và tóc cũng không khác mảy may.

Nhưng, móc tim đổi lòng, nói thì dễ, làm thì rất khó.

Người bị thay thế phải hoàn toàn tin tưởng vào đối phương, trong quá trình ấy không được xảy ra dù chỉ một sai lệch nhỏ.

Hắn không sợ chết, bởi so với cái chết thì thứ hắn sợ nhất chính là đánh mất quyền làm chủ bản thân.
Để bản thân mù mờ rơi vào tay kẻ khác, phó mặc sinh mạng mình cho vận may thì đó chẳng khác nào là trò cá cược điên rồ.
Mà hắn, tuy là một Thái sư đương triều cũng lại là con bạc lớn nhất thiên hạ, nếu xác suất thắng dưới ba phần mười… thì hắn tuyệt đối sẽ không đánh ván đó.

Lục Mẫn là kẻ biết chờ thời.

Khi trong phủ Cửu Chương còn chưa có động tĩnh gì thì phủ họ Lục ở Ly Nhân phường đã bắt đầu âm thầm chuẩn bị hôn lễ.

Người bận rộn cũng chẳng nhiều, chỉ có chừng ba bốn kẻ, làm những công việc giản đơn nhất.

Trong rổ đựng đầy đậu phộng và táo đỏ, chúng tỉ mẩn chất chồng từng lớp dể chuẩn bị dâng cúng trời đất.

Hai con yển nhân tên Nhiễm Điển và Diễm Điển loay hoay suốt nửa ngày, những ngón tay vụng về vừa xếp đến nửa chừng đã lại lật đật làm đổ tung.

Nhưng chúng chẳng hề sốt ruột hay cáu bẳn.

Cả hai vốn là tì nữ thân cận của Thức Mê, cũng là một yển nhân.
Cái tên “Tiểu Ngũ” của Thức Mê bắt nguồn từ việc trước nàng còn có bốn con yển nhân thường dùng. Trong đó Nhiễm Điển và Diễm Điển chiếm hai vị trí, lại được đặt tên – nghĩa là chúng “sống” lâu hơn những kẻ khác.
Chúng được lập trình cho chút tư duy đơn giản vì phải cần thường xuyên trò chuyện cùng chủ nhân, cho có lời có tiếng để Thức Mê đỡ thấy cô đơn.

“A Mê, ngươi sắp gả cho ai vậy?” Nhiễm Điển hỏi, trong đôi mắt tròn xoe ánh lên vẻ mơ hồ.

Thức Mê đang cắt mấy chữ Song Hỷ, vừa cười vừa đáp:
“Gả cho Thái sư Lục Mẫn.”

Diễm Điển nghiêng đầu, không hiểu nổi:
“Một nửa giả nhân còn có thể gả cho người sống sao?”

Thức Mê mím môi cười nhạt:
“Đừng hỏi, nói rồi ngươi cũng chẳng hiểu đâu.”

Diễm Điển vẫn ngoan cố:
“Ngươi không nói, sao biết ta không hiểu?”

Quả đúng là yển nhân cũng có lòng hiếu kỳ. Dù trí óc đơn giản nhưng hỏi nhiều cũng khiến chúng dần học được cách suy nghĩ.

Thức Mê liền thong thả nói:
“Tiểu Ngũ sắp có ‘tâm’ rồi. Hắn sẽ biến thành Lục Mẫn. Ta là nửa yển nhân thì đã sao chứ, đến lúc đó thì hắn cũng là nửa yển nhân rồi. Hai người vừa vặn lại thành một đôi.”
cakҺoทho.coണ

Nhiễm Điển lập tức hỏi:
“Là ý của yển sư sao?”

Thức Mê gật đầu:
“Đúng vậy, đúng vậy.”

“Vậy các ngươi có thể sinh con không?”

Thức Mê giật mình:
“Sinh con để làm gì chứ?”

Nhiễm Điển nghiêm túc đáp:
“Sinh để chơi. Ở ngoài phố, đôi phu thê nào cũng có con hết đó. Con không nghe lời còn có thể đánh nữa.”

Câu nói ấy khiến Thức Mê thoáng ngẩn ra, rồi bật cười khẽ:
“Nửa yển nhân thì làm sao sinh con được. Chưa từng nghe nói yển nhân cũng có hậu duệ.”

Diễm Điển lại làm đổ chồng táo đỏ lần nữa, thở dài, vừa xếp lại vừa nói:
“Nửa yển nhân chẳng phải vẫn là người sống sao? Chỉ cần ngủ chung thì nhất định có thể sinh con.”

Thức Mê cạn lời, chỉ khẽ thở dài.
Quả nhiên, yển nhân không nên để thức quá lâu – khi chúng thấy đủ chuyện đời rồi thì điều học được lại toàn là những điều tầm phào.

Nhiễm Điển cuối cùng cũng dựng xong núi lạc, dán chữ “Hỷ” lên đỉnh rồi chỉnh lại cho ngay ngắn.
Ngoài sân, A Lợi Đao đã treo kín đèn lồng đỏ quanh nhà.

Nhiễm Điển quay sang hỏi:
“Thái sư khi nào tới đón?”

Thức Mê mỉm cười, giọng nhẹ như gió thoảng:
“Chắc cũng sắp rồi – hắn đau đến sắp chết rồi.”

Một vật rơi rụng, một vật sinh ra – đó là quy luật cân bằng của thế gian.

Diễm Điển tỏ ra vô cùng vui mừng thay cho Tiểu Ngũ:
“Tiểu Ngũ lúc nào cũng than tên mình nghe chẳng hay, giờ thì hay rồi, sắp có tên mới rồi đấy.”

Nhiễm Điển thì thở dài:
“Thật ra, tên của chúng ta cũng là đặt tùy tiện thôi mà.”

Thức Mê nghe vậy liền chau mày, có chút bất mãn:
“Các ngươi nói vậy là không biết quý trọng. Tên của các ngươi đâu có tùy tiện, lúc đặt cũng phải suy nghĩ kỹ đấy.”

Diễm Điển nghiêng đầu, ngơ ngác hỏi:
“Vậy ‘Nhiễm Điển’, ‘Diễm Điển’, ‘A Lợi Đao’ — những cái tên ấy nghĩa là gì? Còn cả ‘Tất Sa’ đã hỏng kia nữa, đến lúc chết hắn vẫn chẳng hiểu sao mình lại mang cái tên ấy.”

Thức Mê liền nói qua loa cho xong:
“Đều là những cái tên hay ở Tây Vực cả. Tên nào càng khó nói rõ nghĩa thì càng mang hàm ý thâm sâu. Lại chẳng trùng với ai, còn hay hơn mấy cái tên ‘Vương Vương’, ‘Phi Nương’ đầy rẫy trong thành. Nếu các ngươi thật sự không thích thì từ nay ta sẽ đổi: một đứa gọi là Tiểu Nhị, một đứa là Tiểu Tam, tên gọi dễ nhớ mà chẳng phải động não.”

Hai yển nhân lập tức im bặt.

Một lúc sau, Nhiễm Điển lại tò mò hỏi:
“Huynh muội cũng có thể thành thân với nhau sao?”

Thức Mê bật cười, rồi cảm khái:
“Thế gian quả thật loạn rồi, huynh muội nào lại đòi thành thân?”

Nhiễm Điển nghiêm túc chỉ ra cửa:
“Hôm nọ ngươi chẳng bảo Lục Mẫn là đường huynh của ngươi, lại còn nói to lắm mà.”