Chương 44: -

6808 Chữ 12/12/2025

 

Trước khi gửi đi, Lục Mẫn mang thư đến cho nàng xem.

Thức Mê đọc xong còn kinh ዚ໐àኪყ hơn cả Thánh Nguyên Đế. Nàng ôm chặt quyển kinh thư, há miệng không thốt nên lời:
“Ngươi điên rồi sao? Tự vạch trần khuyết điểm, không muốn sống nữa à?”

Lục Mẫn đứng dưới gốc hải đường để mặc cho cơn gió khẽ lay vạt áo. Hắn ngước nhìn ánh hoàng hôn len lọc qua tán lá, sắc mặt dửng dưng không màng thế sự:
“Có lúc, sống… còn chẳng bằng chết.”

Đó không phải là tuyệt vọng bình thường mà là thứ tuyệt vọng đến mức hủy trời ɗϊệቴ đất.

Bỏ qua đại kế không nói, chỉ riêng chuyện này thôi thì Thức Mê thấy mình thật sự đã hại hắn.
Biết vậy, chi bằng lúc đổi thân nàng nên để A Ngũ ra tay rồi tiện thể giết hắn luôn cho rồi.

Nhưng khuyên thì vẫn phải khuyên.

Thức Mê cố tìm lời mở lối:
“Không có rắc rối nào là không giải được. Nếu sự tình liên quan đến ngươi thì chờ ta bớt việc, ta sẽ nghĩ cách cứu giúp.”

Chuyện này cả hai chưa từng nói thẳng. Thức Mê vốn là người ngay thẳng, nhưng nay gặp phải loại vấn đề này thì cũng khó mở miệng.

Dường như hắn đã hiểu nên không nói gì thêm nữa, chỉ nhìn lại mật thư:
“Đừng lo. Chỉ cần bản tấu đàn hặc của Lý Ngự sử mưu hại ta gửi lên Thánh thượng thì mọi thứ sẽ đúng như ta dự tính. Con người mà, hễ có nghi ngờ liền muốn truy rõ. Bệ hạ sẽ không tin Lý Ngự sử, cũng không tin hoàn toàn ở ta. Đến lúc ấy, ông ta tất sẽ triệu ta vào kinh để đối chất trực diện…”

Lục Thái sư nói đến đây thì hơi mỉm cười, bổ sung thêm:
“Đương nhiên là phải mang theo nhân chứng vật chứng. Ta là đại công thần giúp ông ta dựng nên cơ nghiệp, nếu thẳng thắn nghi ngờ ta thì ông ta sẽ mang tiếng là qua cầu rút ván. Bởi vậy, chuyện tra xét chỉ có thể tiến hành âm thầm. Mà đã âm thầm…”

Hắn hơi nghiêng đầu, ánh mắt tối lại:
“…thì chỉ có một khả năng: đuổi tả hữu ra ngoài, khóa kín lại, chỉ còn hai người đối diện.”

Thức Mê lập tức hiểu ý. Trong một gian phòng kín, có vô vàn chuyện có thể diễn ra mà không ai hay biết.

Quả đúng là bậc Thái sư quyền thần, tâm cơ sâu như biển. Không có hắn phụ trợ thì dù có tạo được yển nhân Thánh Nguyên Đế, e rằng cũng khó lòng thay thế trót lọt.

“Hôm nay thư gửi đi, qua tám trăm dặm gia tốc, sáng mai mật hàm và bản tấu sẽ được đặt lên long án.”
Thái sư chậm rãi nói:
“Chậm nhất hai ngày nữa, trong Long Thành sẽ hạ Thánh dụ, triệu ta cùng Ngự sử vào kinh diện thánh.
Bên các người… liệu đã chuẩn bị xong chưa?”

Thức Mê gật đầu:
“Dĩ nhiên. Trước khi nhập kinh nhất định sẽ chuẩn bị ổn thỏa. Cả hai ሄểฑ nhân đều được đặt ở Ly Nhân phường, Đệ Ngũ Hải đang dạy họ khẩu pháp. Đi thôi, ta dẫn ngươi qua xem.”

Trước khi đi, Lục Mẫn sai tham tán vào truyền lệnh, cấp tốc gửi hai bức mật thư về Thượng Đô.

Khi ra đến cửa, trời đã sắp tối.

Thật hiếm có kẻ đang toan tính chuyện phản nghịch, thậm chí có ý định soán ngôi đoạt vị, vậy mà ban ngày vẫn ung dung ngồi ở nghị sự đường xử lý việc vụn vặt của các châu quận suốt cả một ngày dài.

Có lẽ trong mắt hắn, chẳng có gì đáng để phải lo sớm tính sau; cũng chẳng cần hồi hộp chờ đối phương phản ứng. Mọi thứ đều đã nằm trong dự liệu của hắn, kẻ hắn phò tá suốt mười lăm năm qua, chưa từng cho hắn một chút bất ngờ nào.

Mã xa đậu chờ dưới bậc thềm phủ. Lục Mẫn làm động tác mời, để nàng lên trước. Từ sau lần nàng đuổi hắn ra khỏi phòng hôm ấy thì hai người đã trở nên xa cách. Hai ba tháng không nằm chung giường, cũng chẳng còn chút thân mật nào như lúc trước.
Thời gian dài đã dựng nên một bức tường vô hình giữa hai người. Dù cho lúc này có ngồi kề vai thì vẫn tự nhiên giữ khoảng cách, giống như hai kẻ xa lạ.

Thức Mê đưa mắt nhìn ra ngoài.
Mặt trời chìm xuống đường chân trời, phố xá ven đường thu dọn đóng cửa, chuẩn bị bước vào giờ giới nghiêm.

Thành trì này cái gì cũng tốt, chỉ mỗi chuyện ban giới nghiêm quá sớm. Giá mà được như Bất Dạ Thiên, ngày đêm hành tẩu tự do thì hẳn sẽ dễ sống hơn nhiều.

Đúng lúc ấy, một câu nói của Lục Mẫn khiến Thức Mê càng thêm khó chịu:
“Hiện giờ giới nghiêm bắt đầu lúc trời vừa tối. Chẳng bao lâu nữa sẽ dời lên giờ Thân.”
Giọng hắn nhàn nhạt:
“Người cũng như súc vật, đều có thể bị thuần hoá. Chỉ cần phương pháp đúng thì về sau có thể khiến họ tự mình bước vào mộ đạo…”

Thấy nàng trừng mắt định động thủ, Lục Mẫn vội bổ sung: “Đó là lời của những người trong Long Thành nói, không phải ta.”

Thức Mê nghiến răng: “Khinh mạng người khác, tất cả đều là đồ đáng chết!”

Nàng trừng hắn, hỏi dồn:
“Đám người Yến các ngươi thật nghĩ mình cao hơn thiên hạ này sao? Các ngươi chỉ biết chinh phạt. Bạch Ngọc Kinh và Trọng An thành làm các ngươi bỡ ngỡ, nên các ngươi mới bỏ luôn cố đô mà chạy sang quốc đô Ngu triều chiếm đất xưng vương!”

Thái sư Lục Mẫn để mặc nàng mắng, dù sao cũng chẳng biết phản bác thế nào.

Hắn cúi đầu không đáp. Thức Mê càng nhìn càng giận:
“Ngươi im lặng là ý gì đây? Ngầm mắng ta trong bụng à?”

Lúc này hắn mới mở miệng:
“Im lặng… chẳng phải là thừa nhận sao? Người Yến chiếm thiên hạ của người Ngu, chiếm luôn kinh đô –  đó đều là sự thật. Không có gì phải phủ nhận.”

Rồi thì sao nữa? Cãi nhau sao? Thuyết phục hắn rằng nàng đúng, hắn sai?

Thức Mê bỗng chẳng còn tâm khí ấy. Mọi chuyện đã đến mức này rồi, tranh nhau đúng sai nào có ích gì?
Ai cũng đứng từ lập trường của mình mà phán xét, khó ai lay được ai.

Chi bằng im lặng rồi nghĩ xem bước tiếp theo nên làm gì mới quan trọng.

Nàng giận dỗi quay đầu, suốt đường không nói nửa câu cho tới khi xe dừng trước Ly Nhân phường.
Vừa xuống xe, lửa giận vẫn còn chưa tan; Thức Mê mặc kệ Lục Mẫn định đưa tay ra đỡ, tự mình sải bước vào trong.

Vừa bước vào cửa đã thấy Đệ Ngũ Hải đang dẫn hai người yển nhân nhận biết hoa cỏ trong sân.

Lục Mẫn đứng ở ngưỡng cửa quan sát.

Hai người yển ấy đứng quay lưng về phía cổng; từ bóng hình đến dáng người thì không cách nào phân biệt được ai với ai.
Đợi Thức Mê vỗ tay ra hiệu, họ mới xoay người lại để lộ ra khuôn mặt khiến người ta phải kinh ngạc: y như được đúc ra một khuôn từ dung mạo của Thánh Nguyên Đế và Tống Hoàng Hậu.

Thái sư chân thành cảm thán:
“Ta luôn tin vào tay nghề của hai người. Dùng câu ‘khéo đến hóa thần’ để hình dung cũng không nói quá lời.”

Thức Mê hiếm hoi tỏ vẻ khiêm tốn:
“Ta không giỏi bằng sư huynh. E rằng… Hoàng hậu sẽ kém thông minh hơn Hoàng đế một chút.”

Ánh mắt Lục Mẫn liếc sang Cố Kính Quan đang từ đại sảnh bước ra. Hắn biết nàng nói vậy là có dụng ý. Nàng để Cố Kính Quan tạo ra Thánh Nguyên Đế, nghĩa là chỉ cần Hoàng đế giả thay thế thêm một ngày thì Cố Kính Quan sẽ được an ổn thêm một ngày.

Cũng tốt thôi. Ngươi giữ ta, ta giữ ngươi – thiên hạ này ai chẳng mưu cầu an thân?

Hắn mỉm cười nhạt, bước vào sảnh bàn chuyện nhập kinh hai ngày tới với Cố Kính Quan.
Còn Thức Mê ở lại sân, kiểm tra hai người yển nhân xem Đệ Ngũ Hải đã dạy họ đến đâu.

Hoàng hậu yển nhân thấy nàng liền mừng rỡ tiến lại:
“A Mê, ta học đọc và viết được  rồi! Còn biết nghe giảng đạo lý hưng vong quốc gia nữa.”

Người yển nhân mới tạo phải lập tức truy sinh, nhân lúc khí “sống” còn mạnh mà chỉnh lại giọng nói – đó là bước bắt buộc.
Việc này phải làm rất kín, tránh để người ngoài nhìn thấy cảnh tay chân đầu cổ còn rời rạc mà miệng đã biết nói. Chỉ nghe thôi cũng đủ dọa người ta mất vía.

Hoàng hậu chính là một trường hợp như thế. Ngay từ ngày đầu “sinh ra”, Thức Mê đã dạy cho bà ta biết những điều cơ bản: tư thế ngồi của bậc mẫu nghi, tay chân phải đặt thế nào cho đoan trang…
Chỉ một tháng tiếp xúc mà hai người đã vô cùng thân thiết, nên vừa thấy Thức Mê thì yển nhân Hoàng hậu liền sán lại đầy thân mật.

Thức Mê khen: “Tốt lắm, tiếp tục học. Nhưng nhớ kỹ: Người càng đông thì càng phải nói ít.”

Rồi nàng quay sang Thánh Nguyên Đế:
“Ngươi cũng vậy. Nếu thật sự đối đáp không nổi thì cứ nói: ‘Xin Thái sư định đoạt.’”

Hai người yển nhân đồng thanh đáp, phong độ dáng vẻ giống y như quy củ trong cung.

Đệ Ngũ Hải mỉm cười:
“Ta cho họ xem Đế HuấnHậu Phạm. Họ học rất nhanh. Tuy giờ chưa vận dụng trôi chảy, nhưng lâu ngày tự nhiên sẽ khai linh.”

Thức Mê nghe xong rất hài lòng, vỗ vai y hai cái:
“Có ngươi ở đây, ta và sư huynh cảm thấy rất yên tâm. Ta đang nghĩ… sau khi họ vào Long Thành, hay ngươi cũng vào đó hỗ trợ một thời gian? Không cần lâu, một hai tháng là đủ.”

Đệ Ngũ Hải hỏi:
“Vào bằng thân phận gì? Nội thị sao?”

Thức Mê hơi ngượng:
“Gần như vậy. Mà khi trước ngươi nói… không muốn cưới vợ mà?”

Trong mắt của yển nhân thì vạn vật đều bình đẳng.
Đệ Ngũ Hải không hề do dự:
“Tất cả đều do sư phụ và sư thúc an bài.”

Thức Mê càng thêm tán thưởng, vô thức vỗ vai y mạnh hơn hai cái. Không ngờ động tác ấy của nàng lọt ngay vào mắt Lục Mẫn.

Trên đường về, nàng liền bị hắn châm chọc không ngừng:
“Giới luật nói không được sinh tình với yển nhân… nhưng có quy định người đó phải do chính tay mình tạo ra không? Nếu không thì chắc là được chứ?”

Thức Mê lập tức nghe ra mùi chua: “Ngươi muốn nói gì?”

Lục Mẫn khoanh tay, nhìn ra ngoài xe:
“Đệ Ngũ Hải đúng là khác hẳn những yển nhân khác. Có y ở cạnh, trong lòng liền thấy yên ổn… Nàng cũng thấy vậy sao?”

Điều này nàng không thể phủ nhận:
“Trong mắt ta, y không khác người sống. Có khi còn đáng tin hơn.”

Hắn gằn từng chữ từng lời, giọng nói như hờn như tủi:
“Phải rồi. Y thông minh, trung thành, lại biết sẻ chia cho nàng… Nếu là người sống thì đúng thật là tốt đến mức trên trời dưới đất khó mà tìm được.”

Dù có chậm hiểu đến đâu, Thức Mê vẫn nghe ra giọng cười mỉa trong lời nói của hắn. Nàng quay người nhìn hắn, truy hỏi:
“Vì sao ngươi cứ đối nghịch với Đệ Ngũ Hải mãi vậy?”

“Bởi vì ta là bán yển.” Khóe môi hắn nhếch lên nụ cười lạnh. “Chỉ là yển nhân thôi mà lại giỏi giang như thế. Vậy chẳng phải ta  – một bán yển – đã bị nó đè bẹp sao?”

Hoá ra từ lâu Lục Mẫn đã luôn không vui. Hắn vốn khinh ghét người ta nhắc đến thân phận bán yển của mình. Trong mắt hắn, yển nhân luôn là giống loài thấp kém. Hôm nay hắn chủ động đem khuyết điểm của bản thân ra phơi bày trước mặt nàng, thật sự như đang tự tra tấn chính mình. Thức Mê chớp mắt nhìn hắn nhưng hắn nhất quyết tránh ánh mắt nàng, quay mặt đi dứt khoát.

Suốt dọc đường trở về phủ Cửu Chương, hai người vẫn im lặng. Vai kề vai ngồi chung xe, Lục Mẫn cố kiềm chế, hai bàn tay đặt trên đầu gối chưa một lần chạm vào nàng. 

Có lẽ đã có thứ gì đó đang âm thầm nảy mầm mà đến cả chính bản thân họ cũng chưa nhận ra.

Xuống xe còn phải đi thêm một đoạn nữa. Thức Mê khẽ liếc bóng người dưới ánh đèn lồng. Bước đi từ tốn, Lưng thẳng tắp, cằm hơi ngẩng lên, vẻ lạnh lùng trên gương mặt hắn bỗng khiến nàng bật ra một câu:
“Ngươi… đang ghen với Đệ Ngũ Hải đó à?”

Như một nhát búa khẽ gõ trên lớp băng mỏng, vẻ mặt hắn chao động như tia chớp rồi lập tức trở lại nét điềm tĩnh. Hắn nhàn nhạt đáp:
“Sao gọi là ghen? Giữa ta và nàng vốn không thể có kết quả, ta sao phải ghen? Hơn nữa, Đệ Ngũ Hải dẫu có giống người đến đâu thì suy cho cùng cũng chỉ là một món đồ bằng sắt bằng gỗ. Ai điên đến mức lại đi ghen với món đồ?”

Thức Mê thoáng “ồ” một tiếng, trong lòng khẽ rối bời. Không biết vì sao khi nghe hắn nói vậy nàng vừa thấy nhẹ nhõm, lại cảm thấy có đôi chút hụt hẫng.

Dưới ánh đèn lồng đung đưa trong gió, Lục Mẫn đưa nàng tới tận trước lầu riêng. Trước khi rời đi, hắn dặn dò:
“Hãy chuẩn bị sớm đi, không quá vài ngày nữa sẽ phải đến Bạch Ngọc kinh.”

Quả nhiên dự đoán của hắn không sai.

Ba ngày sau, Thánh Nguyên Đế ban chiếu chỉ, triệu Lý Kiều Chân cùng Thái sư Lục Mẫn vào kinh diện thánh. Vì công lao của Thái sư với xã tắc nên không dùng binh quyền để áp giải, mà chỉ phái Trung Đô Thái Thủ đi theo – vừa như hộ tống, vừa như theo dõi.

Phải nói rằng Thánh Nguyên Đế không phải là bậc trí mưu tài ba. Ông ta giỏi chinh chiến, có dũng nhưng thiếu mưu; muốn tính kế sâu xa nhưng làm chẳng trọn vẹn.

Từ khi Lục Mẫn vào Trung Đô để giám sát xây hoàng lăng thì quyền thế của Thái Thủ gần như bị lép vế. Một quan viên bị người khác nắm quyền sinh sát trong tay, làm sao còn dám nhúng tay vào kiểm soát một Thượng Hiến lẫy lừng hơn mình nhiều bậc?

Lục Mẫn vốn hiểu rõ đạo lý ân-uy kết hợp: từ Trọng An thành đến Bạch Ngọc kinh phải đi xe ngựa hai ngày một đêm. Trong thời gian đó, hắn và Thái Thủ đồng hành cùng một xe, cùng luận bàn nghị sự - là một bộ dáng vừa lễ độ khiêm nhường, lại khéo léo kết giao.

Khi Thánh Nguyên Đế triệu Thái Thủ đến hỏi về tình trạng của Thái Sư, thì vị Thái Thủ kia còn hơi sững sờ. Sau một hồi suy nghĩ, ông quả quyết:
“Thuần là lời đồn thất thiệt! Thần cùng Thái Sư đi suốt chặng đường dài, thần thấy từ ngôn lời, tinh thần cho đến cách ngài luận bàn chính sự, đều y như lúc trước – ưu việt thượng phẩm! Nếu có kẻ luyện được con rối như thế thì không phải là hạng thuật sĩ giang hồ nữa, mà phải là Nữ Oa hạ phàm rồi. Chớ nói chi xa, nếu được hai vị kế quan như vậy hầu cận bên mình thì thần khỏi phải canh thức đối chiếu sổ sách xây dựng Trung Đô, cũng không cần phải nghe bọn kế sư tranh cãi ầm ĩ.”

Ánh nắng hắt qua khung cửa chiếu lên gương mặt Thánh Nguyên Đế, nửa sáng nửa tối, trông mơ hồ xen lẫn chút quả quyết. Ông hỏi:
“Không chút khả nghi nào sao?”

Thái Thủ trầm ngâm rồi đáp:
“Nếu nói không thì cũng chưa hẳn…”

Thánh Nguyên Đế nghiêm mặt:
“Nói rõ.”

Thái Thủ thở dài:
“Mỗi ngày nhắc tới phu nhân năm sáu lần… có hơi quá đà.”

Chẳng ngoài dự đoán, câu nói ấy khiến Thánh Nguyên Đế trợn mắt:
“Mới tân hôn, nhớ phu nhân nhiều cũng là chuyện thường tình.”

Thái Thủ xoa tay, nói:
“Trừ điểm ấy ra, thần thật không thấy Thái Sư có gì bất thường. Trước ngày vào kinh, Thái Sư còn ở Thẩm Đài gặp các thương nhân người Hồ. Thái sư lợi dụng việc nới thời hạn nhập thị cho người Hồ để đổi lấy lượng lớn hoa tiêu giá rẻ. Nếu thật là người bị hoán thân thì liệu có được tâm cơ và thủ đoạn như vậy sao?”

Nghe vậy, trong lòng Thánh Nguyên Đế cũng phần nào lơi ra nhưng chưa hoàn toàn tin trọn vẹn. Ông cần một phép thử xác thực khác, vừa không tổn hại thể diện, vừa phân định được độ thật giả của Thái Sư.

Bên phủ Cố Kính Quan đã chuẩn bị xong xuôi. Khi đoàn người giả danh “Lý Kiều Chân” vào kinh và an trí tại Ngự Sử quan thì chiếc mặt nạ La Giải cũng đã được vẽ sẵn, bọn họ đang chờ thờ cơ đúng lúc để khoác lên diện mạo ሄểฑ nhân của Thánh Nguyên Đế.

Một cuộc đối chất bí mật tất nhiên không thể có nhiều người tham dự. Nhiều nhất là Ngự Sử mang theo “nhân chứng”, cùng Lục Mẫn vào điện diện thánh. Trong một gian phòng mà chỉ duy nhất Thánh Nguyên Đế là người sống… nghĩ tới thôi đã thấy rùng mình.

Đến ngày diện thánh, bên kia hào nước Long Thành, một cỗ xe ngựa dừng dưới tán liễu mờ khói. Rèm xe được vén lên quá nửa, Thức Mê trốn sau tấm rèm, kín đáo ngước nhìn ba bóng người lần lượt bước vào cung môn. Lòng thấy nôn nao không yên, nghiêng đầu hỏi Cố Kính Quan:
“Liệu có chuyện gì sẽ xảy ra không?”

Cố Kính Quan hơi nheo mắt, nói khẽ:
“Không phải ngươi luôn tin vào bản lĩnh của Lục Mẫn sao? Lúc cấp bách thế này lại càng phải tin tương. Hắn lăn lộn trên quan trường hơn mười năm, đã thuần thục đến mức chẳng thể thuần thục hơn. Đã dám đến Long Thành, ắt là chuẩn bị chu toàn cả rồi.”

 Nói rồi Cố sư huynh ngừng một nhịp, khóe môi nở một nụ cười ung dung:
“Đừng căng thẳng thế. Dù Thánh Nguyên Đế hay Lục Mẫn có chết đi thì cũng chẳng tổn hại gì đến chúng ta. Cùng lắm là bỏ thêm chút công sức rồi gây dựng lại từ đầu. Có kinh nghiệm lần trước, lần này chẳng cần loanh quanh vòng ngoài mà đánh thẳng vào Long Thành, thì phần thắng sẽ càng lớn.”

Quả thực, đối với Lục Mẫn, chuyến đi này quyết định sinh tử của hắn. Nhưng với bọn họ, lại có thể xem biến cuộc bằng tâm thái nửa đùa nửa thật. Thành thì tốt, không thành thì dựng lại cơ nghiệp. Với tay nghề và bản lĩnh của họ, đủ để mở ra trăm đường sống.

Thế nhưng chẳng hiểu vì lẽ gì mà lòng Thức Mê vẫn căng như dây đàn. Hai năm qua họ đã bỏ ra biết bao tâm lực, nàng không muốn tất cả hoá thành công cốc.

Nàng cố nhìn về phía Long Thành, song tường cung quá cao, chẳng thấy được gì. Không thấy được dáng vẻ điềm tĩnh của Lục Mẫn khi đứng trong đại điện, cũng chẳng thấy được “Lý Kiều Chân” mạnh miệng ép bệ hạ lập tức tra xét độ thật giả của Thái Sư.

Trên mặt Thánh Nguyên Đế lộ rõ vẻ bối rối nhưng vẫn giữ được chút chủ ý:
“Thái Sư là trụ cột triều đình, từng phò tá trẫm trị quốc, công lao vốn chẳng hề nhỏ. Nếu chỉ vì chuyện ly kỳ như thế mà trẫm phải tra xét Thái Sư thì e là sẽ khiến ngà đau lòng, cũng khiến các công thần khai quốc lạnh tâm.”

Viên Ngự sử không chịu nhượng bộ:
“Hôm tiết An táng các tướng lĩnh ở Trung Đô, có yêu nhân giả dạng tướng tiền Ngu, tự do đi lại trong thành. Ngực họ trống rỗng, đụng vào thân thể liền hóa vụn nát. Võ Hầu mang người truy đuổi đến phường viện, lại gặp một kẻ tự xưng là thúc phụ của Thái Sư. Kẻ ấy ánh mắt vô thần, cử động cứng đờ, khiến cho Võ Hầu sinh nghi, nhưng vì nể mặt Thái Sư nên đành bỏ qua. Thần điều tra được rằng thúc phụ của Thái Sư đã mất ở Lịch Dương từ năm ngoái. Vậy người trong Lục phủ ở Ly Nhân phường kia rốt cuộc là thứ gì? Sự tình rõ ràng có gian trá. Cớ sao Thái Sư sau đó còn cưới dưỡng nữ của Lục Không Sơn? Bao nhiêu điều bất thường như vậy cũng khó lòng mà tự khớp.

Thần tuy chưa bắt được yêu nhân, nhưng lại tìm được La Giải – vị mưu sĩ suýt bị Thái Sư ɗϊệቴ khẩu. Những lần Thái Sư lui tới Ly Nhân phường đều là do La Giải sắp đặt. Tuy nhân chứng bị hạ độc câm, nhưng tay chân vẫn còn, vẫn có thể viết chữ. Mọi chuyện trước sau, thần đều đã trình lên với bệ hạ. Xin bệ hạ minh giám.”

Lời lẽ quá chặt chẽ, chặt chẽ đến mức khiến Thánh Nguyên Đế rơi vào trầm mặc.

Trong tiểu điện, ánh mắt Thánh Nguyên Đế giao với Thái Phó và Thái Bảo, cả ba đều khó bề quyết đoán.

Viên Ngự sử ưỡn ngực, giọng vang dọi như chuông đồng:
“Thái Sư là trung thần, lại càng cần phải bảo hộ xã tắc. Chỉ là vén áo để tra xét mà thôi, nếu tâm không thẹn thì cần gì tránh né? Thần hôm nay dâng tấu luận tội Thái Sư, vốn đã mang tội chết. Nếu lời thần nói là thật, thì cũng chỉ là để ngăn yêu nhân làm loạn triều cương. Còn nếu thần sai thì thần xin lấy cái chết để trả lại thanh danh cho Thái Sư.”

Đến mức này rồi…

Thánh Nguyên Đế im lặng, chỉ chờ Thái Sư tự mình mở miệng.

Lục Mẫn thở dài, chậm rãi nói:
“Nếu thần thật muốn giết người diệt khẩu thì La Giải làm sao sống đến hôm nay? Đâu có chuyện chỉ bị hạ độc câm mà vẫn để lại đôi tay? Thần tự xét bản thân không hổ thẹn với lòng. Hôm nay bị Lý Ngự sử luận tội, nếu thần không tự chứng minh thì cũng khó bề ăn nói với bệ hạ. Chỉ là đã làm quan mười lăm năm, nay phải thất lễ trước mặt các quân phụ, thần lấy làm hổ thẹn lắm.”

Vừa nói, Thái sư vừa ngoảnh sang Thái Phó và Thái Bảo:
“Nhị vị đây muốn tạm tránh mặt, hay lưu lại cùng chứng giám?”

Đó chẳng khác nào cho họ cơ hội lựa chọn giữa sống và chết – đối địch hay đồng minh – trong khoảnh khắc này liền phân rõ.

Thái Phó và Thái Bảo đưa mắt nhìn nhau rồi đồng loạt chắp tay về hướng về Thánh Nguyên Đế:
“Bệ hạ, chúng thần vẫn nên lui ra ngoài. Thái sư là bậc đế sư quyền thần, vốn tự mình chứng thực đã là chuyện tổn hại mặt mũi. Chúng thần nếu đứng đay xem, e sẽ phụ lòng đồng liêu.”

Lục Mẫn lại mỉm cười:
“Nhị vị chi bằng cứ ở lại. Chẳng may ta thật là yêu nhân, gây bất lợi cho bệ hạ, thì hai vị còn có thể lập tức hộ giá.”

Thái sư nói vậy lại càng khiến vua tôi đều khó xử. Vốn dĩ chuyện nghiệm chứng này đã mang sắc thái như trò cười, thêm hai người đứng ngoài xem diễn thì lại càng bôi nhọ thanh danh của bậc công thần lập quốc hơn nữa.

Cuối cùng, Thánh Nguyên Đế cất lời:
“Thỉnh Thái Phó và Thái Bảo tạm đợi ngoài điện. Trẫm tin Thái Sư nhưng Lý Ngự sử đã có lời dị luận, vậy thì Thái Sư cứ tự chứng trong sạch, coi như là để dập tắt lời ong tiếng ve.”

Lục Mẫn thở ra nhẹ nhõm, nhìn theo bóng hai người chắp tay lui ra khỏi tiểu điện.

Ánh mắt Thánh Nguyên Đế dừng lại trên người Thái sư:
“Dược Lân… năm xưa chúng ta ở trên chiến trường, sinh tử cận kề, có khi còn từng trông thấy nhau trần truồng. Nay chỉ mở áo kiểm tra, có gì mà phải ngại.”

Lục Mẫn mỉm cười, đưa tay tháo ngọc đai bên hông:
“Nghe nói đường đỏ trước ngực của yêu nhân rất khó phân biệt. Để tránh sai sót thì xin bệ hạ lại gần xem kỹ.”