Chương 27: -

7983 Chữ 12/12/2025

 

Có Giải phu nhân sắp xếp thì mọi chuyện đều trở nên thỏa đáng.

Bốn người chờ trong phủ, đến giờ thì Giải phu nhân đưa họ băng qua sân đi về phía thủy đài xây dựa bên theo hướng sông sau phủ.

“Lão thủy công chuyên chạy tuyến này, tay lái thuyền của ông rất giỏi, nhưng ông ấy bị điếc và câm, có hỏi gì cũng không trả lời được. Đến Thanh Đồng Thủy Trại rồi thì cứ men theo bậc đá đi xuống. Quỷ thị mở lúc giờ Tý, đóng lúc giờ Sửu, chỉ hoạt động có một canh giờ thôi. Các vị đừng ở lại quá lâu, nhớ phải trở về trước khi đóng chợ.”

Giải phu nhân dặn mãi không ngừng:
“Dù là tìm hàng hay tìm người, cũng đừng tin bất kỳ ai chủ động đến bắt chuyện. Nơi đó tối tăm hỗn độn lại chẳng có luật lệ gì ràng buộc. Nếu bị mất tích ở đó… thì cả đời này cũng đừng mong quay về.”

Thức Mê gật đầu đáp lời nhưng chợt nảy ra một thắc mắc:
“Trong Quỷ thị có người hiểu cơ quan thuật không?”

Giải phu nhân nói:
“Ý nữ lang là cơ quan thuật của Mặc gia? Nỏ liên châu, chim gỗ bay… thì ta từng thấy. Lại có cả thuật Lỗ Ban hoặc điều khiển mộc khôi lộn nhào cũng không hiếm. Nhưng giống tay nghề của Yển sư thì chưa từng có. Nếu có, ta cũng chẳng phải chờ đến hôm nay.”

Đúng lúc ấy thì đã có một chiếc thuyền lá dài và hẹp cập sát bến – so với chiếc lần trước Thức Mê và Thái sư ngồi thì chiếc này còn dài hơn nhiều.

Lão thủy công khua mái chèo, mũi thuyền sắc nhọn rẽ nước không phát ra chút âm thanh nào. Chỉ văng vẳng tiếng ca vụn vỡ theo ánh đèn chi chít từ xa vọng tới, trôi trên mặt nước như những hạt châu tán loạn.

Nơi này đúng là thiên đường để người ta say mê, vui chơi quên cả ngày đêm. Khi dân thường đã tắt đèn đi ngủ thì thú vui tiêu dao nơi đây mới vừa bắt đầu.

Bọn yển nhân đã từng đến Bất Dạ Thiên, nhưng lúc ấy chỉ chuyên tâm hoàn thành nhiệm vụ nào có tâm tình thưởng thức cảnh đẹp. Lần này thì khác rồi, đầu óc của bọn họ thông suốt không vướng bận công vụ nên vừa lên thuyền đã đảo mắt nhìn khắp. Diễm Điển ngồi phía trước, quay đầu hỏi:
“A Mê, cô nói là có người hôn nhau trên thuyền, sao ta chẳng thấy?”

Thức Mê đáp:
“Đừng vội. Phải vào đến Thập Lý Lam Sâm thì mới thấy. Vẫn còn sớm.”

Chuyện hôn môi với yển nhân mà nói là hành động hoàn toàn khó hiểu. Con người đúng là thú vị, cái dụng cụ dùng để ăn uống vậy mà lúc rảnh rỗi lại lấy ra cọ tới cọ lui, chẳng biết cọ vậy có vị gì đặc biệt. Càng không hiểu thì càng muốn nhìn, thành ra dọc đường sáu đôi mắt cứ tìm kiếm mãi. Khổ nỗi tối nay Thập Lý Lam Sâm chẳng có mấy đôi tình nhân ra chơi, đến khi nhìn thấy biển “Thanh Đồng Thủy Trại” thì Diễm Điển vẫn chưa thấy cảnh hôn môi nào để thỏa lòng.

Cái gọi là Thanh Đồng Thủy Trại, chính là một thủy tạ* bằng kim loại đồng xanh ngoằn ngoèo theo dòng nước, phải vượt qua mấy khúc cua gấp sau Thập Lý Lam Sâm thì mới lộ diện. Vì dòng nước chảy xiết nguy hiểm, nên trừ những người cố ý đến Quỷ thị ra thì chẳng ai muốn bén mảng đến đây.

(Thủy tạ*: Một gian lầu/đình nhỏ được dựng sát mặt nước dùng để nghỉ ngơi, hóng mát, ngắm cảnh. Kiểu kiến trúc thường tinh xảo, mái cong, lan can gỗ, tạo cảm giác tao nhã, thi vị.cakhonho.com)

Lão thủy công đưa họ lên thủy tạ, dùng tay ra dấu chỉ hướng phải đi rồi lại chỉ vào mình, ý bảo là ông sẽ chờ ở đây để họ yên tâm tiến vào.

Thức Mê gật đầu rồi dẫn ba yển nhân đi đến phía lối vào. Đi được một đoạn, nàng phát hiện A Lợi Đao đang co ro nép sau lưng mình. Nàng không khỏi nghi hoặc:
“Ngươi… sợ à?”

A Lợi Đao run run nói:
“Sợ chứ. Đường tối thế này, có khi nào… có ma không?”

Một yển nhân mà lại sợ ma, quả thật là chưa từng nghe đến.

Thức Mê thở dài:
“Đường tối thì có đèn lồng. Ngươi giơ đèn lồng lên thì nhìn rõ ngay.”

A Lợi Đao lúc này mới nhớ mình đang cầm đèn, ngượng ngùng cười ha ha vài tiếng:
“Ta… quên mất.”

Nhiễm Điển liền khinh khỉnh đẩy y một cái:
“Suốt ngày khoe mình là hán tử. Hán tử mà nép sau lưng nữ lang, ngươi cũng không thấy thẹn sao?”

Vì thế họ liền đổi đội hình, A Lợi Đao bị đẩy lên đi đầu. Một yển nhân chưa mở cơ quan lực thì đều là như vậy – chiến lực chẳng có bao nhiêu, gan lại nhỏ, mỗi bước tiến đều phải dò xem dưới chân là nước hay là đất.

Nhưng cảnh tối đen như mực này chỉ tồn tại ở đoạn đầu thông đạo. Đi thêm vài trượng liền bừng lên ánh sáng, hoàn toàn khác so với tưởng tượng của bọn họ.

Hẻm vực nơi Quỷ thị tọa lạc không hề u ám ẩm thấp, cũng chẳng có quái thạch ngổn ngang. Nơi này kế thừa kiến trúc của Thanh Đồng Thủy Trại: bốn vách đường ngầm đều đúc bằng đồng xanh, làm nổi lên những hoa văn thú mặt mày dữ tợn. Hai bên tường cắm đầy lửa đuốc, tạo ra ánh lửa kéo thành một con đường dài hun hút. Tận sâu phía trước, lửa còn sáng hơn, còn mơ hồ nghe thấy tiếng người ồn ào. Nếu không biết nội tình thì chắc ai cũng tưởng đây chỉ là một khu chợ bình thường.

Khi bốn người đi đến lối vào, bỗng có hai đại hán đột ngột lao ra. Hai kẻ này phải cao đến chín thước, râu ria đầy mặt, trông bộ dáng dữ như ác quỷ.

A Lợi Đao hoảng đến lùi một bước, y ngẩng đầu nhìn họ, giọng run rẩy nói:
“Chúng ta… do người quen giới thiệu đến.”

“Người nào?” Đại hán hỏi thẳng.

“Giải… Giải phu nhân.” A Lợi Đao nuốt nước bọt. “Ở Bất Dạ Thiên, bà ấy rất có tiếng nói.”

Quả nhiên vừa nghe đến danh xưng thì hai người kia liền không gây khó dễ nữa. Chỉ kéo ra một tờ giấy nhàu nhĩ, đập lên mặt bàn:
“Đến ký sinh tử trạng. Vào đây rồi, sống chết tự chịu.”

Khí thế dọa người không nhỏ. Bốn người lần lượt bước lên ký tên. Đến người cuối cùng ngay khi hạ bút xong thì cửa đồng nơi lối vào mới từ từ nhấc lên, nặng nề mà chậm rãi.

Bước qua cánh cửa ấy, cảnh tượng bên trong khiến họ đứng lặng. Đây là một thế giới bằng đồng xanh rộng lớn hơn gấp bội. Hai bên vách rãnh sâu đặt hai mặt Phật đối xứng nhìn nhau – không rõ là thuộc Thần Phật nào, chỉ thấy bức tượng trừng mắt giận dữ trông giống hệt như tướng người phẫn nộ.

Không ai có thể ngờ, một khu chợ xây dưới đáy nước mà lại không dính chút giọt bùn. Mặt đất lót từng tấm đồng lớn, hai bên là hàng dãy lầu bằng đồng được xếp ngăn nắp, cửa tiệm nối nhau sát vách chíu rọi ra từng ánh đèn sáng rực. Trong đó bày biện toàn những món đồ tuyệt nhiên không xuất hiện trên thị trường – cơ quan thuật truyền từ thượng cổ còn chả đáng để ý tới. Thậm chí còn có mộng mịch thai, đèn họa bì, bình long khí Tần Thủy Hoàng

“Long khí bình là cái gì?” A Lợi Đao hỏi, “Hơi… rắm của rồng sao?”

Ba người còn lại lập tức nhìn về phía Thức Mê, dù sao trong bốn người, thì A Mê có kiến thức sâu nhất. Nàng liền lên tiếng giải thích:
“Tương truyền rằng trong bình chứa hơi thở cuối cùng của Tần Thủy Hoàng trước khi băng hà. Dùng để luyện binh khí thì sắc bén vô song, người hấp thụ khi bị đánh không biết đau, sức mạnh tăng lên dồi dào.”

Nhiễm Điển nhăn mặt:
“Không phải chỉ là tử khí à? Loại khí ấy độc muốn chết…”

“Thế còn mộng mịch thai là gì?” A Lợi Đao chỉ vào chiếc bình xanh lục phát sáng: “Trong đó là chuột hay mèo?”

Thức Mê cảm thấy ba yển nhân này đúng là cần phải đọc nhiều hơn:
“Mộng mịch chưa ra đời, thai của nó có thể khiến người ta mơ đẹp. Muốn mơ mình tự… sinh con cũng được.”

A Lợi Đao lập tức tru lên:
“Ta là nam nhân, sinh cái gì mà sinh!”

Bốn người còn đang nói chuyện thì đột nhiên bên cạnh vang lên một giọng nói lạnh tanh:
“Toàn là lừa cả đấy. Trên đời làm gì có mộng mịch!”

Mọi người đồng loạt quay đầu nhìn. Người lên tiếng là một ông lão nhỏ thó, dáng người thấp bé, trên người mặc chiếc áo choàng rộng thùng thình trông chẳng có gì nổi bật. Ông ta cố nặn ra một nụ cười hiền hậu:
“Ta thì lại có cách tạo ra cho các vị một giấc mộng, muốn mộng đẹp hay mộng xấu tùy các vị lựa. Chỉ cần trả giá hợp ý thì tự dùng hay hại người đều không khó. Muốn khiến mộng và thực lẫn lộn… cũng chẳng phải là chuyện gì quá lớn.”

Thức Mê nhớ ngay đến lời của Giải phu nhân: người chủ động bắt chuyện trên đường đều là lừa bịp.

Nghĩ vậy nên nàng liền lắc đầu:
“Chúng ta không cần mơ. Mời các hạ đi tìm người khác.”

Ông lão bật lưỡi:
“Là vì ta không có cửa hàng cố định nên các vị không tin phải không? Những nơi sáng đèn rực rỡ kia, còn có chỗ nào chặt chém khách nặng hơn chỗ ấy, các vị không biết à? Loại người như ta đây, đi ngang gánh dọc, toàn làm ăn bằng cái tâm. Các vị là lần đầu đến Quỷ thị nên nhìn cái gì cũng không hiểu.”

Ông ta nói thao thao bất tuyệt, nhưng đổi lại chỉ là ánh mắt nghi của nhóm Thức Mê:
“Ông thường đứng đây bán… giấc mộng?”

Ông lão đáp:
“Cũng không hẳn. Chẳng qua là gần đây túng quá nên tái xuất giang hồ kiếm chút bạc tiêu.”

Diễm Điển nhìn ông lão, tiểu nha đầu cảm thấy chẳng thuận mắt chút nào:
“Không danh không hiệu, ta thà mua mộng mịch thai còn hơn tin ông.”

Râu ông lão dựng cả lên:
“Các vị ở ẩn lâu quá nên không biết danh hiệu Yển sư của ta rồi!”

Cả bốn người giật mình:
“Ông là… Yển sư?”

Yển sư xua tay:
“Đúng, đúng. Dạ ngọa yểm ngộ, phi ngoại lai chi quỷ, nãi tâm thức chi huyễn*.”
Nói rồi ông ta còn giữ một chút khiêm tốn:
“Chỉ cần một nén yển hương là có thể đi vào mộng. Giang hồ người ta gọi ta là Yển sư – ta thực thấy thẹn không dám nhận.”

(Dạ ngọa yểm ngộ, phi ngoại lai chi quỷ, nãi tâm thức chi huyễn*: “Gây mộng trong đêm không phải là quỷ quái từ đâu tới mà chẳng qua chỉ là ảo tượng do chính tâm thức biến ra mà thôi.caĶ꘥oทիo.coጢ)

Đến lúc này thì Thức Mê mới hiểu: “yển” này không phải là “yển” kia. Ông ta chỉ là loại thuật sĩ giang hồ chuyên tạo ảo giác. Như vậy thì càng không đáng tin.

Thức Mê lập tức phẩy tay:
“Ban đêm không mộng mị, ngủ một giấc đến sáng mới là chân lý mà chúng ta theo đuổi cả đời. Tấm lòng của ông xin ghi nhận, chúng ta đi nơi khác xem thôi.”

Sắc mặt Yển sư dài ra ngay tức khắc:
“Đồ có mắt không tròng! Không biết phân biệt hàng tốt!”

Bốn người ôm đầu bỏ chạy. Bị mắng vài câu để đổi lấy đường thoát, nghĩ lại cũng còn lời.

Mục tiêu không thể lệch: phải tìm được loại thuốc khiến người hóa thành tro chỉ trong chớp mắt. Họ đi hỏi từ nơi có ánh sáng đến nơi khuất trong bóng đêm, nhưng tất cả đều lắc đầu nói không có.

Cuối cùng bọn họ gặp được một cửa hàng chịu chỉ đường. Ông chủ nói:
“Có một loại thuốc gọi là Thao Thiết Tiên. Nghe nói có thể hóa thịt xương thành nước mà không để lại dấu vết. Các vị có thể qua đó hỏi thử.”

Rồi ông ta chỉ sang một góc xa, nơi có một cái sạp nhỏ dựng lèo tèo. Người chủ quán đang ngồi xếp bằng dưới đất, trông như cả tháng rồi không có ai ghé qua.

Bốn người mừng rỡ chạy đến, trước tiên hỏi công hiệu của thuốc rồi mới tính tới chuyện mua bán. Nhưng hỏi một hồi mới biết Thao Thiết Tiên tuy có thể làm tiêu thịt xương, nhưng tuyệt đối không thể chỉ trong nháy mắt liền hóa sạch. Ít nhất cũng phải đợi một tuần trà (tương đương khoảng 10–15 phút).

Thế là một phen công cốc.

Quỷ thị hoàn toàn không có loại thuốc mà họ cần, manh mối về vụ án của Trưởng Công chúa lại xa thêm một đoạn.

Diễm Điển chống nạnh nói:
“Đừng tìm nữa. Theo ta thì Trưởng Công chúa chính là quỷ hóa thành.”

Thức Mê nhức đầu đến muốn rụng trán, thở dài nói:
“Ban ngày thì gặp quỷ kiểu gì được chứ. Bà ấy đứng trước cửa sổ, bóng kéo dài ra cả một đoạn, nếu đã là quỷ thì làm gì có bóng. Ngươi nghĩ thêm lý do khác đi.”

Bốn người lại bắt đầu lang thang vô định trong Quỷ thị. Nơi này thật ra không dài, cùng lắm chỉ đi một dặm là hết. Vụ án thì chẳng có manh mối, bạc mang theo cũng chẳng tiêu được, chuyến đi này đúng chuẩn là khi đến hăm hở, khi về thất thần.

Đang lúc nản chí thì vô tình họ đi ngang qua một sạp vẽ nhỏ kê bên góc tường. Chủ sạp là một thanh niên thư sinh, có làn da trắng sạch sẽ, cả người gầy gò nho nhã đương cầm bút ngồi trên ghế mây vẽ gương mặt cho khách.

Nhìn sang những bức vẽ bày trước mặt, nam nữ già trẻ có đủ cả. Xem ra là gặp đồng môn rồi. Thức Mê dừng bước, quan sát nét bút của người chủ sạp. Chỉ một nét phác, một đường miêu tả, đã khiến cho nàng có cảm giác quen thuộc đến kỳ lạ.

Đây là thuật hóa dung bằng nhân bì. Sao ở Quỷ thị lại xuất hiện một người xa lạ mà lại có thể sử dụng thuần thục một tuyệt kỹ của Yển sư như thế?

Thức Mê quyết định thăm dò. Nàng vén khăn trùm lên, mỉm cười nói:
“Ta muốn vẽ một khuôn mặt lão phụ. Phiền tiên sinh dựa theo dung mạo của ta mà suy ra dáng vẻ của bốn mươi năm sau.”

Nghe vậy, chàng thanh niên ngẩng lên, chăm chú quan sát thật kỹ ngũ quan của nàng rồi dịu giọng nói:
“Nữ lang phải đặt cọc trước. Hôm nay e là không vẽ kịp. Mười lăm ngày sau hãy đến lấy, lúc ấy cả tiền và hàng đều giao đủ.”

Thức Mê liền lấy ra một nén vàng đặt ngay bên hộp màu của chàng thanh niên:
“Ta muốn lấy trong hôm nay. Không đợi được mười lăm ngày đâu. Ngày mai ta phải đi xa rồi, lần sau quay lại… e chẳng biết là khi nào.”

Chàng thanh niên nhìn thỏi vàng nặng trĩu, do dự một chút rồi nói:
“Nếu nữ lang không vội, xin hãy chờ một lát.”

Thức Mê nói được rồi nghiêng người ngồi xuống chiếc ghế tre trước sạp, dõi mắt quan sát từng động tác của y. Càng xem nàng càng cảm thấy nghi ngờ, từ cách cầm bút cho đến cách xuống nét… đều giống hệt như một người nàng từng quen biết.

Lẽ nào… gặp đồng môn rồi ư?

Chàng thư sinh kia lại mang dáng vẻ rất thong dong, chăm chú phác họa từng đường nét gương mặt dưới ngòi bút, tay chân bận rộn đến độ quên luôn cả bản thân. Từ đầu đến cuối y luôn nghiêng mặt sang bên trái, lúc trò chuyện cũng chỉ hơi xoay đầu, khiến cho người ta không cách nào nhìn rõ toàn bộ gương mặt.

Thức Mê vẫn chưa cam lòng. Nàng liếc qua hàng hoa điền* bày trên bàn, rồi chỉ vào đóa ngoài cùng bên phải:
“Phiền tiên sinh thêm cái này cho ta.”

(Hoa điền*: Là đồ trang sức dán trên trán của nữ tử thời cổ đại. Thường làm bằng vàng, bạc, chu sa, giấy màu, hoặc đá quý nhỏ. Có nhiều hình: hoa, lá, bướm, trăng lưỡi liềm… Được dùng để điểm trang khuôn mặt, tạo vẻ kiều diễm hoặc thanh nhã.)

Trên khuôn mặt của một lão phụ nhân mà còn muốn đính hoa điền? Yêu cầu này đúng là kỳ quặc, nhưng vì vàng đủ nặng nên chủ sạp cũng chẳng buồn ý kiến.

Chàng thanh niên quay đầu qua chỗ hoa điền đang trưng bày trên sạp, nhưng vì khoảng cách hơi xa nên phải xoay người hẳn lại để lấy. Chính vào khoảnh khắc ấy, giữa mấy sợi tóc buông rủ xuống, ở phía sau tai y lộ ra một chiếc ngân châm cắm nơi linh khu – y… là một yển nhân!

Thức Mê khựng lại, suýt tưởng mình nhìn nhầm. Những yển nhân mà Yển sư tạo ra đều có ghi chép rõ ràng. Nàng nhớ từng người một trong bảng ghi chép, tuyệt đối không có y. Hơn nữa người thư sinh này khác hoàn toàn với A Lợi Đao và những người khác. Y biết vẽ mặt người, biết trò chuyện tự nhiên, trí tuệ đã gần như một người sống. Thế gian này… sao lại có loại yển nhân như thế tồn tại?

Ba yển nhân phía sau nàng cũng đã nhận ra. Chỉ là tấm màn sa dưới mũ trùm của họ đã che kín gương mặt, nên không ai thấy được vẻ chấn động của họ.

Có lẽ ánh mắt của Thức Mê quá nóng khiến chàng thư sinh cảm thấy khác thường. Y ngẩng lên nhìn nàng, mỉm cười nhẹ:
“Nữ lang thật muốn khuôn mặt của lão phụ chứ? Bây giờ đổi ý vẫn còn kịp.”

Thức Mê quả quyết:
“Chính là khuôn mặt lão phụ.”

Nàng ngừng một nhịp rồi thân thiện hỏi:
“Tiên sinh là người Trung Đô chăng? Nhà ta kinh doanh tiêu cục, tiêu khách* thường xuyên phải cần dịch dung. Nếu tiên sinh bằng lòng thì sau này về phủ ta vẽ mặt nạ, tiền lương hẳn sẽ cao hơn ở đây. Ý tiên sinh thế nào?”

(Tiêu cục*: Là một tổ chức vận tiêu, chuyên nhận áp tải hàng hóa, tiền bạc, vật quý, hoặc bảo hộ người trong quá trình đi đường. Hoạt động giống… “công ty vận chuyển + vệ sĩ” thời cổ. Có tiêu sư (người áp tiêu), tổng tiêu đầu, phó tiêu đầu, võ nghệ cao. Vì vận hàng quý dễ bị cướp, nên tiêu cục thường liên quan đến võ lâm, giang hồ.

Tiêu khách*: Là người thuê tiêu cục để vận chuyển hàng hóa hoặc vật trọng yếu, oặc nhờ tiêu cục hộ tống bản thân trên đường.)

Nhưng người chủ sạp chẳng có hứng thú:
“Ta chỉ bày hàng ở Quỷ thị mỗi mùng một và ngày rằm. Thời gian còn lại phải về nhà chăm sóc lão mẫu. Đa tạ nữ lang ưu ái.”

Thức Mê tiếc rẻ thở dài:
“Đáng tiếc thật. Vậy xin hỏi tiên sinh xưng hô thế nào? Mai sau ta cần đặt mặt nạ, biết đâu phải tìm đến.”

“Ta thường bày hàng ở chỗ này.” Hắn nói chậm rãi. 

“Ta tên là Đệ Ngũ Hải – nữ lang gọi ta Đệ Ngũ là được.”

Đệ Ngũ Hải. Tên này thật kỳ bí. Đời này chỉ nghe nói tứ hải, còn y lại là Hải thứ năm – như đứng ngoài tam giới cũng chẳng thuộc ngũ hành. Mà người đặt tên cho vị tiên sinh, tất cũng là nhân vật bất phàm.

Một mặt nạ người bằng da thật sự, nếu tập trung vẽ thì cũng không mất quá lâu. Cuối cùng vị tiên sinh cũng hoàn thành tấm mặt nạ trước lúc chợ đóng cửa.

Đệ Ngũ Hải đưa mặt nạ cho nàng, lại trao thêm một lọ thuốc:
“Khi dùng chỉ cần một giọt, chấm lên ấn đường là được.”

Thức Mê nói đã rõ, nàng cẩn thận cất đồ vào tay áo rồi cáo từ.

Bốn người men theo lối ra mà đi, bước chân trở nên dồn dập. Thức Mê hạ giọng hỏi:
“Các ngươi nhìn thấy rồi chứ?”

Ba người không hoàn toàn trả lời, chỉ thấp giọng đáp một tiếng trong cổ họng:
“Ừ…”

Thức Mê quay lại nhìn họ, dưới màn sa mỏng là ba gương mặt chán nản đến mức thê thảm. A Lợi Đao là người chịu kích động mạnh nhất:
“Tại sao… tại sao tên đó trông thông minh hơn chúng ta nhiều như thế, lại còn biết vẽ nữa?!”

Câu này phải trả lời thế nào đây? Thức Mê nói:
“Chức năng của mỗi yển nhân đều không giống nhau. Kẻ đó được tạo ra để chuyên vẽ mặt nạ người – đó là sở trường của y. Cho nên các ngươi không cần so với y.”

“Thế sở trường của chúng ta là gì?” Diễm Điển hỏi.

Thức Mê bắt đầu liệt kê:
“Có nhiều lắm, nào là: khuân vác hàng hóa, quét dọn sân nhà, hầm gà tần… Quan trọng nhất là các ngươi đánh nhau rất giỏi. Ba người các ngươi có thể địch được cả nghìn quân lính.”

Nghe vậy, ba người lập tức phấn chấn hơn hẳn:
“Thì ra chúng ta lợi hại như vậy! A Mê có chúng ta đúng là phúc khí lớn!”

Thức Mê mỉm cười thuận theo, trong lòng lại âm thầm thở phào. Nhưng chuyện của Đệ Ngũ Hải lại khiến nàng đầy nghi hoặc, người chủ sạp vẽ đó rốt cuộc là sản phẩm của ai? Vụ Trưởng Công chúa rơi lầu… có liên quan đến kẻ đứng sau y không?

Nếu muốn điều tra bí mật ẩn trong bóng tối, tìm ra nguồn gốc của người tạo yển nhân ấy là vô cùng quan trọng. Nàng cần phải biết rõ là: người đó học được kỹ nghệ từ đâu, và có quan hệ gì với Yển sư.

Trước khi đến đây nàng đã hỏi thăm rõ ràng, Quỷ thị chỉ có một lối vào và một lối ra. Họ hoàn toàn có thể bám theo Đệ Ngũ Hải rồi lần ra sợi dây mơ hồ này. Vì thế, khi vừa ra khỏi Thanh Đồng Thủy Trại, nàng bảo lão thủy công đậu thuyền ở xa, dập tắt ánh lửa rồi lặng lẽ chờ hắn xuất hiện.

Không bao lâu sau, người buôn kẻ bán trong Quỷ thị lục tục bước ra, ai nấy cũng tự chèo thuyền, rất nhanh đã tan vào trong bóng tối.

Lão thủy công quả thực có bản lĩnh. Trên thuyền chở năm người mà vẫn có thể theo sát được chiếc thuyền lá phía trước. Bờ hồ Lộc lớn mênh mông, ở khúc nào cũng có thể cặp thuyền vào. Chỉ đến khi rời xa ánh đèn thành thị thì Đệ Ngũ Hải mới ghé vào một bãi đất vắng vẻ.

Đó là nơi hiếm hoi ở Bất Dạ Thiên không có bóng người. (cakhonho.com) Trung Đô ban đêm có lệnh giới nghiêm, nhưng Bất Dạ Thiên thì không. Từ xa họ đã thấy Đệ Ngũ Hải trình giấy thông hành rồi ra khỏi cổng, trên tay y xách một chiếc đèn xanh, bước lên con đường nhỏ ngoằn ngoèo nơi ngoại thành.

Vạt áo y quét nhẹ qua làn cỏ dại khiến những hạt sương đêm bậu trên gấu áo.

Ngọn đèn xanh lạnh ấy càng đi càng chậm… rồi dừng hẳn.

“Các vị theo ta từ nãy đến giờ, là vì không hài lòng với giao dịch vừa rồi?” Đệ Ngũ Hải đã phát hiện có người theo dõi mình từ lâu. Y quay người lại, lạnh lùng nhìn.

Bốn người bước tới gần, Thức Mê nói thẳng:
“Ta muốn gặp chủ nhân của ngươi. Xin hãy dẫn ta đi.”

Đệ Ngũ Hải bật cười lạnh:
“Chủ nhân gì chứ, ta làm gì có chủ nhân. Nếu nữ lang muốn lấy lại vàng thì ta trả ngươi là được.”

Vừa dứt lời, y búng ngón tay khiến khối vàng lập tức bắn về phía Thức Mê như một mũi tên.

Thức Mê còn chưa kịp đưa tay ra đón thì một bóng người từ bên cạnh nhanh chóng lao ra, đó chính là ám vệ của Cửu Chương phủ. Lưỡi đao “choang” một tiếng đánh văng thỏi vàng xuống đất.

Chỉ trong khoảnh khắc ấy – giữa ánh đao chớp lóa – Đệ Ngũ Hải nhổ bật chiếc chốt bạc sau tai ra. Y giống như một dã thú bị giam lâu ngày vừa thoát khỏi xiềng xích, sức mạnh bộc phát của y dữ dội đến mức không hề giống thân xác cốt thịt thông thường.

Ám vệ của Lục Mẫn rất giỏi, với người thường mà nói thì là rất giỏi. Nhưng đối mặt với yển nhân được đúc bằng tinh thiết thì chẳng khác nào lấy tre chống sấm. Chỉ vài chiêu đơn giản, hơn chục người đã ngã gục trong cỏ đêm.

A Lợi Đao, Nhiễm Điển và Diễm Điển thấy vậy lập tức giật bung ngân châm sau gáy, cầm đao lao lên giao chiến. yển nhân đánh nhau, trong chớp mắt như tia điện xé trời.

Thức Mê đứng trên lối nhỏ, lặng lẽ quan sát tình hình. Nàng biết rằng dù ba người kia có bản lĩnh đến đâu thì cũng tuyệt đối không phải là đối thủ của một yển nhân mang thuật pháp cao cấp đến nhường này.

Quả nhiên không ngoài dự liệu, ba yển nhân dần dần rơi vào thế hạ phong. Đệ Ngũ Hải quay ngoắt đầu lại, đôi mắt thủy ma kính dưới màn đêm bỗng lóe lên ánh sáng sắc lạnh. Thức Mê lập tức biết, hắn đã động sát ý với nàng.

May mà nàng đã sớm đề phòng. Ngay khi hắn xoay người lao thẳng về phía nàng thì Thức Mê hất tay ra, vô số mô-đun cơ quan gấp liền tung ra như mưa. Trong khoảnh khắc ấy, những mảnh kim loại nhỏ bằng hạt đậu mở ra, xoay chuyển, rồi kết hợp lại trong làn gió đêm, hóa thành hàng chục kiếm khôi lao vút về phía Đệ Ngũ Hải.

Kiếm khôi không phải yển nhân, đây chỉ là loại cơ quan đơn giản nhất. Chúng có màu sắc sặc sỡ, không biết suy nghĩ, không biết đau, càng không biết sợ. Chúng chỉ biết nhận lệnh, điên cuồng lao vào thực hiện nhiệm vụ đến khi nát vụn.

Dù Đệ Ngũ Hải có mạnh đến đâu thì một mình chống chọi ba yển nhân cộng thêm cả mấy chục cơ quan khôi, cuối cùng vẫn có chỗ không chống đỡ nổi. Thừa lúc y bị cuốn vào vòng vây, Thức Mê siết chặt thanh đoản kiếm được luyện bằng thiết thạch từ thiên thạch, đâm thẳng về phía lưng vị thanh niên ấy.

Bất kể yển nhân có tinh vi đến mức nào thì sẽ luôn có nhược điểm chí mạng. Nàng đã quan sát y rất lâu. Toàn bộ tứ chi, ngực, thậm chí phần đầu thì y đều dám trực diện đón đòn; chỉ riêng có hậu tâm* là y luôn tránh né theo bản năng. Mũi kiếm trong tay nàng, chỉ cần chạm vào mệnh môn* của y thì sẽ khiến y lập tức sụp đổ – thân thể tan rã thành bụi vụn…

(Hậu tậm*: Vùng giữa lưng, ngay sau ngực, tương ứng vị trí sau tim.

Huyệt mệnh môn: nằm sau thắt lưng, giữa đốt sống thắt lưng số 2 và số 3. Được coi là nơi “tàng trữ nguyên dương của cơ thể”, chủ về sinh mệnh, nên gọi là cửa sinh mệnh.)

Chính ở khoảnh khắc ấy, nàng bỗng nhiên nghĩ đến Trưởng Công chúa. Có khi nào… bà ấy cũng tự hủy theo cách này nên thi thể mới tan biến không tung tích? Bao nhiêu ngày nàng khổ tâm tìm kiếm manh mối, không ngờ đáp án lại gần trong gang tấc.

Mũi kiếm như mũi tên, chuẩn xác nhắm đúng vị trí. Nhưng ngay ở một giây sát-na chạm vào thì một chiếc đấu lạp (nón lá rộng vành) bất thình lình bay đến, hất lệch đường kiếm đi.

Thức Mê thu kiếm lại, khẽ bật cười, đôi mắt sáng ánh lên tia sát ý lạnh lẽo:
“Đến rồi?”

Trong bóng tối, giọng của người kia vang lên như băng vỡ:
“Không có lòng Bồ Tát, chỉ có thủ đoạn Kim Cang. Người của Linh Dẫn Sơn vẫn luôn như vậy – quen thói ɗϊệቴ sạch không chừa.”