Chương 23: -

8208 Chữ 12/12/2025

 

Nhưng rất nhanh, Thức Mê lại nhớ ra một chuyện. Nàng liếc hắn hai cái, ánh mắt mang hàm ý thâm sâu:
“Ta nhớ lần trước ngài từng đề nghị, trong lần gia trì sau, để tránh ngài đối với ta sinh ra tà niệm, ta có thể trói ngài trước. Giờ thì hay rồi, ngài lại muốn trói ta… xem ra lòng ngài càng lúc càng hoang dại.”

Một câu nói đầy mùi hổ sói ấy khiến sắc mặt Thái sư đương quyền nhất thời biến đổi.
Nhưng với sự từng trải của hắn, sao có thể bị một tiểu nữ lang làm khó cho được.
Điều hắn giỏi nhất chính là – phớt lờ. Thế là hắn khẽ rung tay áo, xoay người đi thẳng vào sảnh.

Thức Mê không chịu buông tha, đuổi theo hắn, vừa đi vừa ồn ào:
“Lục Mẫn, Phược Long Đằng là thứ gì vậy? Có thể cho ta nhìn một chút để mở mang tầm mắt được không?”

Hắn chẳng đáp lời, chỉ bước đến trước chậu bạc, đặt hai tay ngâm vào nước.

Thức Mê rất biết nhìn sắc mặt, nàng lấy khăn tay đặt lên cổ tay mình, vừa dỗ dành lại vừa dò hỏi:
“Đã gọi là ‘đằng’, hẳn là mọc trên cây phải không? Lại còn trói được cả rồng, nghe đã thấy lợi hại rồi.”

Thấy nàng chịu khó học hỏi, hắn cũng không vòng vo nữa.

Thái sư nhận khăn tay từ cổ tay nàng, lau khô đôi bàn tay rồi nhàn nhạt nói:
“Khi đánh xuống Tĩnh quốc, ta đã từng gặp một đạo nhân. Phược Long Đằng ấy là do y tặng cho ta. Gọi là dây đằng nhưng chất liệu rất khó phân định. Chỉ biết nó có thể tùy theo vật được buộc mà tự điều chỉnh độ lớn, độ dày.”

“Thần kỳ đến vậy sao?”
Nàng vỗ tay tán thưởng:
“Quả là bảo vật! Không bằng tối nay chúng ta lấy ra dùng đi! Lục lang uống trước, ta sẽ tiếp rượu sau. Có thứ này hộ thân thì ngài hoàn toàn không phải lo mình sẽ thất thố.”

Kết quả là hắn từ chối ngay lập tức, không cần nghĩ ngợi thêm:
“Ta chỉ thuận miệng nói bừa, nữ lang sao lại coi là thật?”

Mặt Thức Mê lập tức dài tám trượng:
“Ngài là Thái sư, chỉ kém ‘kim khẩu ngọc ngôn’ một chút thôi đấy!”

Hắn lại cười thản nhiên:
“Hiếm khi nói đùa, cũng chẳng hại ai.”

Đúng lúc này thì nội phủ tham quan đứng ngoài cửa bẩm báo:
“Ty thiện đã đưa bữa tối vào Thiên Thủy Vi Tử. Thỉnh Chủ quân và Nữ quân di giá dùng bữa.”

Thức Mê vẫn còn bực bội vì bị trêu đùa, liền quay phắt lại:
“Ta không đi. Ta còn hai đoạn dây gai chưa se xong, bây giờ bận lắm.”

Tham quan nghe xong thì ngơ ngác, nhìn sang Thái sư cầu cứu:
“Chủ quân…”

Lục Mẫn đổi sang giọng ôn hòa, hai tay chắp sau lưng:
“Gian lầu này đối với phủ Cửu Chương chỉ như hạt cỏ trong ruộng lớn. Nữ lang không muốn đi xem khắp nơi, ngó một vòng thử xem có bảo vật gì ư?”

Thức Mê vốn không phải người cố chấp.
Nàng vào phủ Cửu Chương là để thăm dò hư thực, đúng thật là không nên vì chút không vui mà bỏ lỡ cơ hội hiếm có.

Nghĩ vậy tiểu nữ lang liền đồng ý, sải bước đi trước, còn giơ tay ra hiệu cho hắn theo sau.

Toàn phủ Cửu Chương này… nơi nơi đều lưu lại dấu ấn của Ngu quốc. Chẳng hạn như hoa văn đấu củng dưới mái hiên – đều là hình vẽ chim yến mùa xuân mà người Ngu yêu thích nhất.

Người Ngu có gu thưởng thức rất cao.

Tên gọi của từng cung điện, từng lầu các, đều tao nhã mà hợp ý.
Cái gọi là Thiên Thủy Vi Tử thực chất là một đại điện rực rỡ vàng son – lấy tên như vậy là vì trong điện sử dụng chất gạch xanh sáng như nước, màn trướng trang hoàn bằng vàng mỏng rũ xuống bốn phía.

Thức Mê bước qua cửa điện, bị cảnh sắc bên trong làm cho kinh ngạc. Nàng không nhịn được đùa:
“Ta đoán, chắc còn có cả một ‘Vạn Sơn Vi Tử’ nữa.”

Lục Mẫn đáp:
“Không gọi Vạn Sơn Vi Tử, mà là Vạn Sơn Tùng Hác – là một nơi thuần dưỡng dã thú. Nếu cô nương thích, lần sau bảo họ dẫn cô qua xem.”

Nàng quay đầu, nụ cười nhẹ như gió thoảng:
“Ngài không muốn tự mình dẫn ta đi sao? Phu thê tân hôn không nên tách rời nhau. Chính ngài nói phải để ta lúc nào cũng ở bên cạnh cơ mà.”

Nàng không hề né tránh người ngoài, những lời vừa rồi nói ra liền rơi trọn vào tai tham quan cùng nội tán.
Dẫu đám thị tùng được huấn luyện nghiêm cẩn, mắt điếc tai ngơ, hành động của bọn vẫn lạnh nhạt như thường, nhưng phong thái thanh cao mà Thái sư khổ tâm gầy dựng bấy lâu nay đến đây e rằng đã khó tránh khỏi đôi phần lung lay.

Quả nhiên, sống lưng Thái sư càng dựng thẳng hơn, như thể chỉ có vậy mới giữ được thể diện của bản thân.

Giọng hắn lạnh như gươm:
“Nương tử, mời nhập tịch.”

Thức Mê nhẹ mỉm cười, nàng cúi người tháo đôi giày mềm rồi bước lên ngồi trên tọa tháp.

Tòa tọa tháp này không cao, chỉ có hơn một thước, nhưng lại rộng lớn – so với từ tọa tháp thì gọi là địa đài nghe còn hợp hơn.
Trên đó trải thảm nhung dày, bày bàn ăn, hai bên chồng gối tựa, hoàn toàn có thể… nằm mà dùng bữa.

Trên đỉnh điện, từng chiếc cung đăng treo không đồng đều lại dùng giao tiêu che gió, khi tỏa từng dải ánh sáng xuống đại điện tạo nên cảm giác gợn sóng như nước.

Trong điện ấm áp, ngoài song cửa sổ thẳng rộng mở hé lộ ra bầu đêm tối đặc quánh như keo.
Nội tán rót thanh tửu vào chén lưu kim, rượu dập dềnh như sóng nước, phản chiếu trên bề mặt nước là từng ánh sao trời trên cao.

“Cửu Chương phủ thoải mái hơn Thái sư phủ nhiều.”
Thức Mê nâng chén, cụng nhẹ với hắn.
“Chúng ta ở lại Trung Đô đi, đừng về Bạch Ngọc Kinh nữa.”

Hắn cúi đầu nhấp một ngụm, rồi ngẩng mắt lên liếc qua tham quan.
Vị tham quan lập tức hiểu ý, vội khoát tay đuổi hết người hầu trong điện ra ngoài.

Trong đại điện rộng thênh thang chỉ còn lại hai người. Lúc này Thái sư mới chậm rãi đáp:
“Hành cung của tiền Ngu tất nhiên là xa hoa hơn phủ quan. Nhưng đây không phải là nơi ở lâu dài. Khi công trình hoàn tất thì mọi người đều phải rời đi.”

Thức Mê vẫn canh cánh một điều mãi chưa thông suốt:
“Trung Đô chẳng phải đã xây rất tốt rồi sao? Vì sao còn phải tiếp tục đại tu, lại còn phái ngài đích thân giám sát?”

Về chuyện này thì hắn chỉ có thể nói đến đó mà thôi:
“Chính vì quá tốt nên bị người phát hiện ra một tác dụng khác. Thành này không thích hợp cho cư trú… thậm chí không nên xuất hiện vào thời đại này. Ta nhận lệnh đến đây trông coi công trình là vì thân thể không tốt, càng là vì muốn tránh né Đế vương phong mang. Thành xây xong mà không chịu về thì chẳng lẽ định chiếm núi xưng vương sao?”

Ợ… thật ra nàng đúng là có ý ấy trong lòng, chỉ là không tiện nói ra thôi.

Thức Mê thức thời, đổi đề tài, nói sang điều nàng luôn nghi hoặc về hắn.

Tiểu nữ lang nhỏ giọng hỏi:
“Ngài nói xem, cốt độc này… có phải do Thánh Nguyên Đế hạ hay không? Từ xưa thiếu niên tài tuấn đều yểu mệnh. Nếu sống càng lâu, đạo hạnh càng thâm sâu thì người thường khó khống chế. Yến triều đã gầy dựng xong, bên người lại có lưỡi dao sắc bén như vậy thì lòng vua sao có thể yên ổn. Mười năm đầu ngài giúp Bệ hạ thống nhất thiên hạ; mười năm sau không có Thái sư… thì Bệ hạ vẫn sống được. Nên Người bèn ‘điểu tận cung tàng’. Phải vậy không?”

(Điểu tận cung tàng*: Khi chim đã bị săn bắt hết, thì cái cung dùng để bắn chim cũng bị cất đi. Giống như khi việc đã xong, người có công cũng không còn được trọng dụng nữa, thậm chí bị vứt bỏ. Thường dùng để chỉ những người từng lập công lớn nhưng sau đó bị chủ nhân nghi kỵ, không còn cần tới, hoặc bị trừ khử để tránh hậu hoạn.)(caĶ꘥oทիo.coጢ)

 

Hắn nghe nàng phân tích nhân quả, ngữ điệu rành rẽ, nhưng lại bỏ quên một điều trọng yếu. Đó là thời điểm.

“Ta phát độc bốn năm trước. Khi ấy Yến triều đang tung hoành bốn nước, mặc dù đánh trận oanh liệt nhưng chưa nắm chắc phần thắng trong tay. Nếu ta chết lúc ấy thì đối với Yến triều chẳng phải là chuyện tốt. Bệ hạ sẽ không mạo hiểm như vậy.
Vậy nên nữ lang hãy nghĩ lại xem… ngoài Đế quân ra, còn ai có thể hại ta?”

Nàng nghe xong càng thấy khó đoán. Kẻ này kết oán vô số, người muốn lấy mạng hắn chắc phải xếp thành một đoàn dài từ chân núi lên tận mây trời.
Đến hắn còn không dám chắc ai là thủ phạm thì huống hồ gì nàng – người chỉ nửa đường chen vào mệnh kiếp của hắn.

Nàng đành lắc đầu bỏ cuộc, nhưng vẫn không quên an ủi hắn đôi câu:
“Thái sư tuy chọc người ta ghét, nhưng vận số lại tốt, mệnh không tuyệt. Tìm không ra hung thủ thì thôi cần gì nhọc lòng. Mười bốn năm trước ngài còn yếu nên bị người tính kế cũng chẳng lạ. Mười bốn năm sau ngài đã cao lớn kiên cường, để kẻ đó thử thêm lần nữa xem sao!”

Con người sống trên trần thế này phải luôn nhìn thoáng ra, dù đã đau đớn suốt bốn năm, mỗi lần phát độc đều như kề cận sinh tử, nhưng cũng không cần chăm chăm ôm hận. Huống chi đã đổi được một thân xác mới, như thuyền nhẹ vượt muôn trùng núi sông, lại càng không nên so đo chuyện cũ quá nhiều.

Lục Mẫn nhàn nhạt cong môi, lại nhấp một ngụm rượu.
Rượu mạnh chảy qua cổ họng với hắn mà nói không quá khó chịu – vị giác vẫn còn nhớ, chỉ là thân thể chưa quen.

Hắn cầm bình rượu lên định rót thêm cho nàng.
Ai ngờ nàng bỗng buột miệng:
“Ngài nói xem, con lừa đó… liệu có phải không bị bệnh chết, mà là bị người đầu độc?”

Hắn trầm mặc, cân nhắc chốc lát rồi đáp dưới ánh mắt chờ mong của nàng:
“Ta dự khoa khảo lúc mười hai tuổi. Trúng độc là năm mười ba.”

Nàng lập tức xụ mặt, bất đắc dĩ thỏa hiệp:
“Ta đến uống rượu, không phải để phá án. Ai là người mở đầu đề tài này? Chẳng phải là ngài sao? Được rồi, ba chén phạt.”

Nàng đón lấy bình rượu, rót vào chén của hắn.
Hắn cũng không từ chối.
Không biết uống bao nhiêu nhưng đầu đã ong ong, nhìn sao ngoài trời cũng thành vòng tròn xoay chuyển.

Lục Mẫnchống khuỷu tay, giọng nói đã chậm hẳn đi:
“Tối nay… nữ lang có chịu giúp ta?”

Vốn dĩ nàng chỉ định thử Phược Long Đằng, nên mới tính “một công đôi việc”. Giờ không trói được người, lại thêm có men rượu, điều này với Thức Mê mà nói đúng là nguy hiểm.

Thế là nàng né tránh:
“Để mai đi. Hoặc chờ lúc ngài mệt rồi… hãy đến tìm ta.”

Hắn đã hơi say, dáng vẻ không còn sắc bén như thường ngày. Tựa gò má lên bàn tay, Thái sư chậm rãi quay sang nàng:
“Ta bây giờ… đã thấy mệt rồi.”

Thức Mê vẫn ung dung ăn điểm tâm của nàng, thảnh thơi đáp:
“Đó là do rượu chạy khắp người ngài thôi. Ta đã sớm nói rồi, không nên quá nóng vội. Ta bảo ngài uống phạt ba chén, ngài liền uống ngay. Dễ bị xúi giục như thế thì sao mà đảm đương nổi trọng trách!”

Hắn không muốn dây dưa chuyện rượu nên liền giơ chân đá văng chiếc kỷ nhỏ sang bên, nghiêng người lại sát nàng, gương mặt gần như chạm vào mặt của tiểu nữ lang:
“Ta luôn muốn hỏi… có cách nào chỉ cần tốn công một lần nhưng nhàn hạ mãi về sau? Hoặc nếu Yển sư muốn đặt điều kiện gì, ta thay ông ấy hoàn thành cũng được.”

Ngồi gần thế này, rõ ràng là định dùng kế mỹ nam.

Thức Mê không hề bị lay động. Miệng nói “không có”, tay lại đẩy mạnh vào mặt hắn.

Kẻ say vốn đứng không vững chân, hắn bị nàng đẩy một cái toàn thân liền mềm như tơ liễu, đổ rạp xuống bên cạnh nàng, trông chẳng khác nào tiểu mỹ thiếp bị lạnh nhạt.

Nàng cúi mắt nhìn hắn, giọng nói như người thê tử bạc tình đang trách phu lang cũ:
“Ta biết ngài không cam tâm bị người khống chế. Nhưng con người không thể quá tham lam, làm gì có chuyện cá và gấu đều cùng muốn đạt được! Huống chi Yển sư đến giờ vẫn chưa yêu cầu ngài điều gì. Việc duy nhất ông ấy làm chỉ là gả ta cho ngài, coi như tìm cho ta một nơi để gửi gắm thân này.
Còn ngài thì sao? Lúc nào cũng lo lắng, lúc nào cũng muốn cắt đứt quan hệ cùng chúng ta. Thế nào? Việc cưới ta khiến ngài khó chịu lắm sao? Ta không đẹp? Hay không thông minh? Rốt cuộc ta làm ngài mất mặt chỗ nào?”

Trong cách nói của nàng vừa sắc vừa khí, ánh mắt nhìn hắn lại đầy khí thế.
Vốn là một nữ lang thẳng thắn đáng yêu, giờ bị hắn chọc đến mức lộ cả nanh vuốt.

Hắn chống người ngồi dậy, mái tóc dài rơi xuống vai, thoạt nhìn lại thêm vài phần yếu mềm.

“Nữ lang hiểu lầm rồi. Ta không có ý đó. Chỉ là bình nhật công vụ bề bộn, sợ mình quên mất thời điểm, lỡ để ra sai sót.”

Hắn vừa nói vừa ngồi lại lên chiếc ghế tọa mềm của mình.

Thái sư chạm tay vào chén rượu trên bàn, ánh mắt lại như trôi vào một giấc mơ khác:
“Đợi đến mùa đông năm nay khi gốc mai nở đầy bên song cửa sổ, tuyết rơi mịt mù trắng xóa… thì khi ấy ta mời nương tử đến đây uống rượu lần nữa.”

Đúng là kẻ đọc sách, thỉnh thoảng cũng biết bày chút phong nhã.

Thức Mê không trả lời, nhưng trong lòng đã chấp nhận đề nghị đó. 

“Đến lúc ấy… nàng còn ở đây chứ?”

Hắn bỗng hỏi nhỏ, đốt ngón tay siết lấy chén rượu, miệng lẩm bẩm than:
“Ta sợ có một ngày nữ lang rời ta mà đi… đến lúc đó không biết phải tìm nàng nơi đâu.”

Thật ra bán yển ai cũng đều lo như thế, không chỉ riêng gì hắn. Ngay cả Giải phu nhân cũng sợ rằng một khi mất liên hệ với Yển sư thì muốn sống thêm một ngày cũng là điều không thể.

Còn Thức Mê, nàng tạm thời chưa nghĩ đến việc rời bỏ hắn. (caĶ꘥oทիo.coጢ) Dù sao nàng còn muốn ở lại trong thành Trọng An này thật lâu.

Trung Đô thời Ngu là tuyến phòng thủ cuối cùng của Bạch Ngọc Kinh, sang đến triều Yến thì quốc đô vẫn là Bạch Ngọc Kinh. Chứng tỏ thành Trọng An vẫn là nơi phong thủy thịnh vượng, tiền đồ không nhỏ.

“Yên tâm, ta chẳng đi đâu đâu.”
Nàng nghiêng đầu, nở nụ cười nhẹ:
“Người đã gả rồi, có hôn thư làm chứng. Ngài còn sợ ta bỏ trốn à?”

Hắn nghe xong, rất chậm, rất nhẹ mà gật đầu.
Đặt chén rượu xuống, cánh tay dài của Lục Mẫn vượt qua cả án bàn. Hắn nắm lấy tay nàng, nửa thật nửa bỡn: “A Mê, nàng và ta… là phu thê một thể.

Nàng đáp ngay: “Đương nhiên rồi,” còn vui vẻ vỗ vỗ nhẹ lên tay hắn.
Chỉ là… hắn dường như quên mất một chuyện – trên hôn thư viết tên là Lục Hà Phương, đâu có phải là Giải Thức Mê đâu.

Tổng thể mà nói thì Thái sư càng lúc càng… nhìn rất hợp mắt nàng.
Thức Mê nhịn không được lại vuốt thêm vài cái, lại phát hiện mu bàn tay hắn nổi lên những đường gân rõ rệt, hơi nhô, mạnh mẽ đầy sức lực.
Đó là dấu hiệu cho thấy người luyện võ.

Nàng nhớ khi còn là Tiểu Ngũ, tay hắn nhẵn nhụi mềm mại như thể không có xương.

“Lục Mẫn, ngài tinh thông kỵ xạ phải không? Năm xưa Yến triều đánh bốn nước, ngài dẫn binh đâu chỉ bày trận mà còn tự mình xông pha ဌıếቲ địch?”

Hắn nhìn ra ngoài cửa sổ, ánh mắt thoáng trở nên xa xăm, như đang dõi theo điều gì ngoài tầm với.

“Họ Lục ở Lao Âm, văn có thể an bang định quốc, võ có thể chinh chiến sa trường. Từ nhỏ ta đã được rèn dạy luyện quyền cước lẫn kỵ xạ. Núp trong triều đình phát lệnh sao sánh được với tự mình cầm quân chém giết.
Đáng tiếc lại bị người ám toán… hai mươi ba tuổi trở đi, ta không còn cầm kiếm được nữa.”

“Thế còn bây giờ?” Thức Mê hỏi.
“Việc luyện lại đao kiếm quan trọng hơn tập tửu lượng đấy. Nhìn bàn tay này xem – đã luyện lại được rồi à?”

Hắn cười một cách lười nhác:
“Từ ngày có thể nắm lại đao kiếm thì ta đã luyện rồi. May mà không quá sinh vô dụng, một tháng nay đã khôi phục được bảy tám phần…”
Nói đoạn Thái sư liền lảo đảo định đứng dậy:
“Ta múa thử cho nàng xem.”

Thức Mê vội đưa tay ngăn lại:
“Thôi khỏi! Ngài say rồi, ngã một cái là phiền. Chúng ta bàn chuyện ngày mai đi. Ta sẽ bao trọn tầng có khung cảnh đẹp nhất, ngài gọi các thuộc quan đến. Thỉnh thoảng cũng phải mở tiệc, đừng để người ta nói Thái sư chỉ biết bàn công vụ, keo kiệt một đồng không muốn bỏ.”

Hắn gật đầu từng cái một:
“Nghe nữ lang.”

Thức Mê đưa chén chạm vào chén hắn:
“Nào, uống!”

Hắn ngửa cổ, nốt nửa chén còn lại cũng đổ hết xuống bụng. Xem ra là không chống nổi nữa rồi.
Về sau hắn chẳng nói được câu nào, cũng không ngồi dậy nổi mà cứ thế nằm dài trên địa đài… say mèm đi qua đêm tân hôn thứ hai.

Ngủ đên canh năm, Thức Mê bừng tỉnh dậy.
Bầu trời ngoài kia chỉ vừa hửng sáng.
Nàng nghiêng đầu nhìn Lục Mẫn – hắn đã mở mắt, vẫn nằm bất động, đang lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa sổ.

Cung đăng treo cao đã cháy suốt cả đêm, từng tầng ánh sáng ấm rơi xuống nền gạch vàng khiến cho điện thất như chìm ngập trong ánh nước.

Thức Mê kéo chăn nhìn theo tầm mắt hắn:
“Ngài đang xem gì vậy?”

Giọng hắn đột nhiên trở nên trống rỗng:
“Ta đang nhớ… tối qua mình uống mấy chén.”

Sớm như vậy đã nằm tính toán việc đó? Đúng là… nhàm chán đến đáng thương! cakhonho.com.

Thức Mê nghiêng người ôm lấy chiếc gối, mơ mơ màng màng đáp:
“Ba bốn chén… cũng có thể năm sáu chén… Trời còn chưa sáng hẳn, ngủ thêm một giấc nữa đi…”

Nàng nói ngủ là ngủ, lần mở mắt tiếp theo thì trời đã sáng bừng.
Thức Mê từ tốn dậy chải đầu điểm phấn, ăn qua loa vài miếng điểm tâm rồi theo Lục Mẫn lên chiếc hoa liễn của hắn.

Trọng An thành, không biết cuối cùng sẽ bị cải tạo thành dáng vẻ gì. Vốn đã đủ thần kỳ hùng vĩ, nay lại xây thêm phục đạo ở bốn hướng.
Nam, Bắc, Tây đều đã hoàn thành; chỉ còn phía Đông đang chuẩn bị xây công trình lớn nhất, hôm nay vừa mới đặt nền. Nghe nói sẽ dẫn thẳng đến Đông Sơn Tân Linh Châu.

“Đêm qua ngày nói nơi này không hợp để người ở, vậy xây cho… thần tiên trú ngụ à?”
Thức Mê nhìn ra ngoài cửa xe, ngắm nghía pho tượng thần cao lớn lạnh lẽo nơi xa.
“Tượng càng cao càng dễ nối thông trời đất, ta cứ tưởng Ngu triều đã đủ phô trương rồi, không ngờ Yến triều cũng chẳng kém là bao.”

Có đôi điều, nếu chưa đến lúc thì không thể nói ra. Lục Mẫn ngắm cảnh ngoài xe, không hé môi một chữ.

Xe liễn cuối cùng dừng lại.
Thái sư bước xuống trước rồi quay lại đỡ nàng – trong mắt người ngoài thì cảnh tượng đúng là hình mẫu của một vị phu quân chu đáo.

Thần đạo phía Đông bắt đầu từ lưng chừng sườn núi, cao hơn thành thị một đoạn.
Ở đó người ta đã đục ra một con đường rộng bằng phẳng; từ vách đá mọc xiên ra một gốc đại thụ, tán cây um tùm che qua hai ba trượng lối đi.
Phía ngoài là làn sương đầu xuân đang bốc lên từng cụm mịt mờ che lấp, chỉ thấp thoáng thấy được vài đỉnh nhọn của các lầu cao trong thành.
Ở cuối đại đạo là gương mặt của một vị thần không biết tên, như từ đỉnh núi rơi xuống, trấn áp bốn bể tám phương.

Lục Mẫn siết lấy cổ tay nàng, như sợ nàng nhân lúc sương dày mà chuồn mất.

Trước tượng thần đã bày sẵn án thờ, một hàng quan viên cúi mình chờ đó.

Hắn cúi giọng dặn Thức Mê:
“Đừng chạy lung tung, đứng một bên đợi ta.” Rồi tự mình tiến lên thắp hương quỳ bái, dẫn mọi người cùng thực hành nghi thức tế lễ trời đất.

Từng hồi chuông trầm nặng hòa cùng tiếng khánh thanh linh, vang dội đến nửa dốc sườn núi.
Có vẻ trang nghiêm thần thánh, nhưng cũng nặng nề đến nghẹt thở.

Thức Mê tin rằng đời người không nên hoàn mỹ đến mức tuyệt đối. Mọi đạo pháp đều cần phải giữ lại một phần khuyết, bằng không, khi càng tiến đến tận cùng thì càng dễ biến chất và trở thành tai họa.

Tất nhiên, lời ấy nàng không thể tùy tiện nói ra. Nàng chỉ ngoan ngoãn khép tay đứng tựa vách đá mà lặng lẽ xem lễ.

Những vị nam nhân đó thành kính cúng bái thần linh, được chấp thuận rồi mới ra tay xúc nhát cuốc đầu tiên. Nghi lễ động thổ đã xong, phần sau chỉ cần nhân lực không ngừng ngày đêm mở đường dựng trụ.

Tham mưu tiến lên dâng khăn tay. Lục Mẫn nhận lấy lau tay rồi đồng thời phân phó cho hai vị vệ tướng:
“Lấy một năm làm thời hạn. Không kể các ngươi dùng cách gì, huy động bao nhiêu sức người – đến đúng ngày này năm sau phải hoàn công.”

Hai vệ tướng cùng đáp:
“Quyết không khiến Thái sư khó xử.”

Công sự đã xong liền đến tư sự*.

(Công sự đã xong liền đến tư sự* nghĩa là chuyện công đã xong giờ đến chuyện riêng/cá nhân. cakhonho.com)

Thái sư Lục Mẫn quay đầu nhìn Thức Mê trong bộ y phục trang trọng, rồi nói với mọi người:
“Lễ cưới hôm trước tiến hành gấp gáp, chúng ta tiếp đón các vị chưa được chu toàn. Nay nội tử của ta đã bày yến tiệc ở Phù Dao, thiếp canh cũng đã gửi đến các phủ. Cung thỉnh các vị phu nhân đến dự buổi yến để đôi lứa chúng ta cùng tạ khách.”

Thượng quan mở tiệc, đám thuộc hạ tất nhiên phải nể mặt. Mọi người rôm rả ứng hòa, lại cảm tạ Thái sư phu nhân có tấm lòng chu đáo.

Ngay bên cạnh Hổ Khôi vệ là Phủ chính Hình Ngục. Cúi chào đáp lễ xong, ông ta ghé sát tai đồng quan thì thầm:
“Thái sư lần này kết thân… vội vàng quá đó.”

Hổ Khôi vệ cũng canh cánh chuyện ấy:
“Hôm tiết An Táng, Yển sư làm loạn trong thành, Võ hầu tra đến Ly Nhân phường.
Nói trong phường có một tòa viện của thúc phụ Thái sư, trong ấy có một vị nữ lang tự xưng là đường muội Thái sư – chính là vị này.”

“À…” Phủ chính Hình ngục phủ đưa tay day day trán:
“Hóa ra là đường huynh muội… thôi mau đừng nói bừa. Trong đó ắt có nguyên do. Trước kia phu nhân nhà ta còn muốn làm mai mối, định để muội muội trong nhà gả cho Thái sư đấy. Chỉ thiếu chút nữa thôi thì ta đã thành anh vợ của Thái sư rồi.”

“Hừ, thiếu chút nữa là bao nhiêu?” Hổ Khôi vệ bật cười khinh khỉnh: “Ta cũng định gả muội của ta cho ngài, suýt nữa ta đã thành đại cữu của Thái sư rồi ấy chứ?”

Hai người ngươi một câu, ta một câu, vừa tranh vừa cười, vừa chen vừa đẩy, cùng đi về phía Phù Dao phương Đông.

May mà hai nơi cách nhau không xa nên có thể đi bộ được. Đi theo phục đạo còn nhanh hơn đi đường đất, chỉ vài vòng đã tới nơi.

Thần đạo tràng của Phù Dao phương Đông được dựng giữa hai pho tượng khổng lồ.
Vòng thiên kiều* nối giữa hai tượng ấy, thực chất chính là dải lụa đeo trên cổ thần tượng.

( *Giải nghĩa “Vòng thiên kiều”: là một cây cầu cung tròn uốn lượn như dải lụa, được treo giữa không trung, nối hai tượng thần. Nó vừa là đồ trang sức của thần, vừa là lối đi trong thần đạo tràng.)

Khi quân Yến lần đầu nhìn thấy công trình đồ sộ này thì quả thực đã vô cùng khâm phục trí tưởng tượng của người Ngu: họ biến kiến trúc thành thần tích, bảo sao lại khiến chư quốc tranh giành.

Nhóm người vừa trò chuyện vừa bước lên phục đạo (lên lối hành lang cao).

Hôm nay Thức Mê là chủ buổi tiệc, khí độ của nàng bày ra rất đúng mực của một quý nữ nói năng lễ độ, hành xử tinh tế.
Nhất là khi kết giao cùng các phu nhân của sáu vệ tướng, thì nàng lại có cảm giác như đã quen biết hoh từ lâu.

Căn nhã gian ngắm cảnh của Tố Quán rộng rãi sâu hút, chính giữa phòng có đặt bình phong ngăn cách. Khi cần thông gian thì chỉ việc thu bình phong lại là được.

Phong tục Yến triều vốn phóng khoáng, không quá câu nệ tiểu tiết nam nữ. Huống hồ phu thê đều tề tựu ở đây thì đồng liêu tụ họp cũng chẳng cần kiêng dè.

Vì vậy Thức Mê cho người thu bình phong lại, ra hiệu cho mọi người có thể nâng chén, trò chuyện thoải mái.
Phu nhân của các vệ tướng đương nhiên vừa nhiệt tình vừa có chút lấy lòng đối với Thái sư phu nhân.
Nhưng lời khen của họ thì không hề sáo rỗng – không ai nói mấy câu kiểu như “phúc khí lớn”, cũng chẳng ai cố ý truy hỏi thân thế của nàng.

Phu nhân của Song Cung vệ tướng ăn nói rất khéo:
“Tiện xá* gần Cửu Chương phủ nhất. Người chỉ cần đứng trên hồng đạo* gọi một tiếng là chúng ta nghe rõ. Nếu phu nhân có điều chi phân phó thì cứ việc sai người đến. Ta tuy lớn tuổi hơn phu nhân vài năm, nhưng miễn cưỡng sao có thể san sẻ đôi phần.”

(*Tiện xá: chỗ ở tạm/khu nhà phụ.)

(*Hồng đạo: hành lang đỏ, đường chính trong phủ.)

Năm vị phu nhân còn lại cũng phụ họa, thái độ ôn hòa vừa đúng chừng mực.
Dĩ nhiên họ cũng ý nhị chuyển đa dạng đề tài, để Thái sư phu nhân khỏi ngượng ngập khi trò chuyện.

Mọi người đang nói chuyện rất vui thì Thái Trưởng Công chúa bất ngờ đứng dậy.
Ai nấy không hiểu vì sao bà lại đứng lên, nhưng Công chúa tuổi đã cao, có lẽ bà muốn đi rửa tay hoặc duỗi gân cốt, mọi người nghĩ chắc hẳn là có lý do nên cũng không tiện hỏi han.

Thái Trưởng Công chúa mang theo nụ cười hiền hòa, bà chậm rãi bước đến trước khung cửa sổ chạm hoa văn.

Các khung cửa sổ của thành Trọng An thường không cao, chỉ ngang tới thắt lưng người.

Đặc biệt là ở thần đạo tràng, để tiện cho khách nhân nhìn ngắm quan cảnh nên chỉ đặt hai tầng lan can mảnh.

Tưởng rằng Công chúa ngồi lâu mỏi người, muốn ra cửa sổ hít thở một chút.
Nhưn không ai ngờ…

Bà lại đột nhiên nghiêng mình về phía trước rồi đổ hẳn ra ngoài cửa sổ.
Thân thể bà nhẹ như chiếc lá, từ phục đạo cao mấy chục trượng rơi thẳng xuống dưới, thoáng chốc biến mất trong biển sương dày đặc.

Biến cố đột ngột xảy ra ấy khiến tiếng kinh hô vang khắp gian lầu, cả nhã gian thoáng chốc xôn xao náo loạn. Thái Trưởng Công chúa rơi xuống ngay trước mắt bao người; càng không có dấu hiệu báo trước, càng khiến người ta hồn vía lên mây.

Kích Hồ hầu khản giọng gọi “A mẫu!”, ông như cơn gió phóng ra ngoài.
Các vị nam nhân cũng ùn ùn chạy theo, bốn phía vang loạn âm thanh tiếng quát gọi, tiếng bước chân người như dội cả sườn núi.