Chương 22: -

8349 Chữ 12/12/2025

 

Nội tán và nội thị nối nhau bước vào, hầu hạ họ rửa mặt thay y phục. Tóc Thức Mê được búi thành kế, đầu cài thêm đầy trâm hoa tinh xảo, trên người khoác lên bộ lễ phục nặng nề.

Bên ngoài, Nhiễm Điển và Diễm Điển muốn chen vào mấy lần nhưng đều bị đám người hầu đẩy bật ra. Bọn họ chỉ có thể đứng trước cửa gọi “Nữ quân!”

Thức Mê khoát tay bảo họ tránh đi. Những dịp long trọng thế này cần tinh tế chu toàn, các nàng ấy ở đây cũng chẳng giúp được gì, đến ngay cả nàng cũng khó xoay sở.

Cuối cùng cũng sửa soạn xong, Nữ quân được ngừi hầu dìu đến chính đường. Đó là nơi phủ Cửu Chương dùng để cử hành đại lễ. Cả gian điện lát gạch lưu ly, lại được mài sáng bóng như gương, khi giẫm chân lên tựa như đang bước trên mặt sóng dập dờn.

Lục Mẫn nắm tay nàng, dẫn nàng tiến lên trước để cúi lạy.

Vốn dĩ Thức Mê chẳng mấy xem trọng chuyện này, nhưng khi nhìn thấy khay vàng bạc chất cao như núi ở trước mặt kia thì nàng cũng đành miễn cưỡng… cúi đầu trước tiền bạc.

Hoàng đế Yến quốc nhớ đến công lập quốc của Thái sư, ngoài thưởng vàng bạc châu báu ra Người còn đặc biệt ban cho tân nương tử tước hiệu Lao Âm Quan phu nhân. Lấy vùng đất vốn là quê hương của Thái sư để làm lộc dưỡng cho kiều thê – có thể nói là vô cùng cất nhấc, cũng là ban ân đến tột bậc.

Thái sư dắt tay kiều thê cung kính bái tạ thâm ân.

Đại lễ hoàn tất, phần còn lại chỉ là chuyện xã giao và quà cáp theo lệ. Bọn thái giám mang thánh chỉ đến sẽ nhận được hậu lễ (quà đáp tạ) của Thái sư, nhưng chuyện ấy đã có tham quan và tham tán sắp xếp, chẳng cần Thái sư phải đích thân động tay đến.

Trong đại sảnh rộng thênh thang, gạch lưu ly phản chiếu ánh vàng lấp lánh. Thức Mê ngắm vàng bạc một hồi, rồi ngẩng đầu hỏi hắn:

“Ta có thể lấy một ít không?”

Lục Mẫn cụp mắt nhìn nàng:
“Cô nương thích?”

“Tất nhiên rồi,” nàng đáp rất thẳng thắn, “ta rất nghèo mà.”

Hắn cũng hào phóng:
“Cô nương lấy được bao nhiêu… thì cứ lấy bấy nhiêu.”

Nàng lại hỏi cho chắc:
“Lời ấy là thật chứ?”

Hắn đến mí mắt cũng không nhấc lên, hẳn nghĩ rằng nàng chỉ có mỗi hai bàn tay thì lấy được bao nhiêu cho cam.

Đã vậy… thì phải để hắn mở rộng tầm mắt đôi chút.

Thức Mê nhẹ nhàng búng tay tách một tiếng, gọi A Lợi Đao, Nhiễm Điển và Diễm Điển tới. Khí lực của yển nhân vốn lớn mạnh vô song, Diễm Điển vác người sống chạy đêm trăm dặm còn dư sức, thì chừng này vàng bạc thật chẳng thấm tháp gì.

Thế là, dưới ánh mắt kinh ngạc của Lục Mẫn, bốn người dễ dàng mang hết vàng bạc lên vai rồi ung dung rời đi như một cơn gió.

Nhiễm Điển ôm đầy một người vàng bạc, lại lâm vào rắc rối mới:
“Chúng ta có từng này tiền rồi… giờ nên làm gì với chúng đây?”

Tiền đến quá dễ khiến người ta khó thấy quý. Diễm Điển nói:
“Mua thật nhiều vải đẹp, may thật nhiều y phục tốt. Với lại đao của ta sắp gỉ mất rồi, mài sao cũng không sáng. Ta có thể xin một khối tinh thiết không? Hoặc mua hẳn một thanh mới, dùng sẽ thuận tay hơn.”

Thức Mê rất hào phóng:
“Được hết. Còn da, gỗ, nhựa, sơn, đồng kính… nhiều vật liệu thiếu thốn quá, phải bổ sung ngay.”

A Lợi Đao hỏi:
“Yển sư định làm thêm nhiều yển nhân ư? Lần trước người bảo gió quá lớn, cần tạm nghỉ một thời gian.”

Thức Mê ậm ừ:
“Nay đã khác xưa rồi. Ta nghĩ chúng ta nên trữ ít vật liệu, phòng khi cần dùng. Nhưng giờ mua đồ không còn dễ như lúc còn ở Ly Nhân phường, việc vận chuyển hàng hóa vào đây phải né tránh ánh mắt người khác.”

A Lợi Đao đập mạnh vào ngực:
“Giao cho ta. Ta đi mua, không cần cửa hàng đưa tới, ta sẽ tự vác về.”

Cũng phải, khó mấy rồi cũng có cách. Nếu thật sự bất tiện thì căn nhà ở Ly Nhân phường vẫn còn đó, chỉ cần tháo biển “Lục phủ” xuống rồi thay bằng “Phủ Thái sư phu nhân” thì sẽ không ai hỏi han được gì.

Bốn người bàn bạc một hồi, càng nghĩ càng thấy tương lai sáng sủa. Ánh mắt Nhiễm Điển vẫn luôn bị búi tóc trên đầu Thức Mê thu hút, tiểu nha đầu ngắm nghía hồi lâu mới nói:
“Nhìn phức tạp thật… để ta học thử. Học được rồi thì ta sẽ chải tóc cho A Mê.”

Thức Mê cười bảo được, rồi thay xuống bộ lễ phục nặng nề trên người thuận tay giao cho Diễm Điển.

Diễm Điển gấp bộ y phục thật ngay ngắn, vừa gấp vừa lẩm bẩm:
“Giải phu nhân chắc đã trở về Bất Dạ Thiên rồi.”

Lần này họ vội vã đưa bà ta đi ngay khi thân thể Giải phu nhân còn chưa hồi phục. Vì không tiện để bà bị vác trên vai chạy đường dài nên họ đã chuẩn bị sẵn một cỗ xe ngựa, thuê người đưa bà ta về. Chốn Bất Dạ Thiên – lầu các vàng son ấy – nằm trọn trong tay bà ta điều khiển. Dù bà ta có nằm yên không cựa thì cũng chẳng ai dám làm khó.

“Ngày trước muốn vào Bất Dạ Thiên, ngay cửa thành đã bị hỏi han thân phận, phải dâng danh thiếp mới được cho vào.” Thức Mê nói vui vẻ nói.

“Nhưng giờ có quen biết rồi, ra vào chẳng có gì cản trở. Thấy không, quen biết quả nhiên là điều tốt. Giờ thì Cửu Chương phủ và Bất Dạ Thiên, sau này còn có Xá Thành, Lao Âm Quan và cả Bạch Ngọc Kinh nữa.”

Bởi thế, điều mà Lục Mẫn lo sợ rồi sẽ thành sự thật. Hắn muốn ngăn, còn nàng thì lại mong mỏi nó xảy ra – đôi phu thê mỗi người một ý, chuyện này biết tính sao đây.

Nàng cười đến cong cả mắt, mang chút nghịch ngợm của đứa trẻ nhỏ đang làm điều xấu. Chỉ cần nhớ đến cái vẻ bất bình xen lẫn bất lực của hắn… nàng liền thấy trong lòng sảng khoái.

Đúng lúc đó, bữa sáng do Ty thiện chuẩn bị được đưa tới – mấy hộp đồ ăn nóng hổi, là cháo, canh và điểm tâm tinh xảo.

Viên nội tán bày biện từng món ăn lên bàn, rồi liếc nhìn ba người đứng cạnh Thức Mê. Trong lòng các người hầu ở đây vẫn chưa nắm rõ được tính tình của Thái sư phu nhân cũng như ba người hầu nàng mang theo. Cho nên gương mặt viên nội tán vẫn giữ nụ cười, giọng nhẹ nhàng nói:
“Nhà bếp cách đây không xa, có phòng ăn riêng dành cho thị giả và nội tán. Ba vị có thể tới đó dùng bữa. Mỗi sáng từ giờ Dần đến giờ Mão, trên bếp đều có bánh hấp, muốn dùng thì cứ tự nhiên lấy.”

A Lợi Đao, Nhiễm Điển và Diễm Điển vốn không giỏi ứng đối với loại lời nói này, nghe xong chỉ ngơ ngác nhìn về phía Thức Mê.

Thức Mê liền nói giúp:
“Họ quen ăn đồ ăn quê nhà, khó hợp khẩu vị Trung Đô. Nên việc ăn uống khỏi phiền đến bếp, cứ để họ tự lo. Mỗi ngày chỉ cần mang đến phần ăn của ta là được. Nếu Chủ quân muốn dùng bữa ở đây thì người sẽ báo trước với bếp.”

Nội tán vâng lệnh, chờ nàng ăn xong liền thu dọn sạch sẽ rồi lui ra.

Ngày đầu tiên sau khi thành hôn, ngoài việc vác được một đống vàng bạc ra thì hình như chẳng có thu hoạch được gì khác. Thức Mê quyết định đi xem qua mấy chiếc rương mang theo, sắp đặt trước mọi thứ, đợi vật liệu gom đủ là có thể bắt tay vào làm việc ngay.

Những yển nhân chưa hoàn thiện không thể tiếp xúc với ánh sáng, Thức Mê dẫn Nhiễm Điển và Diễm Điển đi bịt kín toàn bộ cửa sổ trong phòng lại. Gian phòng này được thiết kế sâu và rộng rất vừa ý nàng, chiếc án đài khổng lồ tựa như được làm riêng cho công việc của nàng.

Thức Mê đưa tay chạm lướt qua mặt bàn gỗ tử đàn, cảm nhận chất liệu trơn mịn ấm áp – quả nhiên là tốt hơn hẳn căn mật thất ở Ly Nhân phường.

Nàng rất hài lòng, hài lòng đến mức chỉ muốn ở mãi nơi này chẳng bước ra ngoài. Lấy ra một chiếc dao khắc, nàng vừa kiểm tra lưỡi dao thì từ dưới sân thiên tỉnh vang lên giọng nói của thái giám, từng tiếng một gọi lên:

“Nữ quân… Nữ quân…”

Diễm Điển ra ứng tiếng, đứng bên lan can hỏi:
“Có chuyện gì?”

Thái giám đáp:
“Chủ quân đã sang nghị sự đường xử lý công vụ, chưa rõ khi nào sẽ trở về. Người sai nô tài đến chuyển lời: ngày mai Thần đạo phía Đông sẽ cử hành lễ khởi móng, Chủ quân phải đích thân tới dự. Nếu Nữ quân bằng lòng thì có thể đi cùng Chủ quân.”

Thức Mê ngồi trong căn phòng tối nhưng nghe rất rõ lời của người nô tài. Nàng bước ra, cúi đầu hỏi:
“Lễ khởi móng ấy… tất cả quan lại có mặt đủ cả sao?”

Thái giám nói:
“Phải. Sáu vệ Trung Đô phụ trách xây thành, lễ lớn lễ nhỏ đều phải đến đủ.”

Thức Mê gật đầu:
“Được rồi, ta biết rồi.”

Trong lòng nàng hiểu rõ: Lục Mẫn muốn để nàng xuất hiện trước mặt các quan tướng, nhưng không phải là để cho nàng tăng thêm địa vị. Từ đầu đến cuối, hắn vẫn chưa biết nàng cưới hắn nhằm mục đích gì. Đã vậy thì chi bằng cứ đưa nàng ra ánh sáng để xem nàng lộ sơ hở thế nào. Đây là động thái của Thái sư thường làm nhất.

Nhiễm Điển và Diễm Điển nghe vậy, lập tức phấn chấn, cả người tràn đầy khí thế:
“Ngày mai chúng ta cùng đi! Chờ A Mê phân phó!”

Thức Mê bật cười:
“Ngày mai là đi làm quen các tướng lĩnh sáu vệ – không phải đi đánh nhau. Chính các ngươi mới là những vị anh hùng nhất thời không có đất dụng võ.”

Những tướng lĩnh ấy từng cầm trọng binh, nhiều người còn tham dự chiến dịch công phá tiền Ngu. Không biết trong số họ có ai từng giao chiến trực tiếp với các tướng thủ thành Ngu triều, và những hố chôn xác ngoài tường thành kia… có bao nhiêu là do chính tay họ đào ra.

Thế nên nàng rất mong chờ chuyến đi ngày mai. Thành Trọng An này nàng thèm muốn đã lâu, nhưng vì trong thành tướng quân đông đúc, khó mà lần lượt tiếp cận từng người. Nếu phía trên không có khả năng kết giao thì cứ từ dưới mà đi lên, có Lục Mẫn là tấm ván cầu, muốn tiếp xúc với ai cũng dễ như trở bàn tay.

Tất nhiên người nằm cạnh gối nàng mới là vấn đề phiền nhiễu nhất, nên nàng vẫn phải dành đủ kiên nhẫn để dây dưa với hắn cho thật khéo.

Đến hoàng hôn, Thái sư Lục Mẫn xử lý công vụ xong vẫn quay về tòa lầu riêng của hai người. Thức Mê không cảm thấy bất ngờ:
“Tối nay vẫn ngủ ở đây?”

Sắc mặt hắn nhạt nhẽo:
“Ngày thứ hai sau thành hôn mà đã chia phòng… ta chỉ sợ làm Thái sư phu nhân mang tiếng đến không ngẩng đầu nổi.”

Đúng thế, chia phòng sớm như vậy chẳng khác gì nói rằng đêm tân hôn mỗi người đã một nơi.

Trên chiếc hành lang dài nơi cầu Trường Hồng, thỉnh thoảng có thị vệ qua lại tuần tra. Thức Mê tự nhiên mà khoác tay trượng phu:
“Đã vậy, chúng ta càng nên tỏ ra ân ái đường mật. Phu thê mới cưới tình nồng ý mật, đó là lẽ thường tình.”

Hắn dường như cũng ngầm chấp thuận, không hề lên tiếng phản đối.

Thức Mê ngước mắt hỏi hắn:
“Nếu ngài nghe theo lời gia tộc, cưới một tiểu thư khuê các hiền thục đoan trang, thì liệu cũng sẽ cùng nàng ấy giữ lễ như khách, nhạt nhẽo như nước sao? Nàng ấy đoan trang mà ngài thì lạnh nhạt – hai người như hai khối băng không sát vào nhau, sống thế chẳng phải hờ hững lắm sao?”

Hắn liếc tiểu nương tử một cái:
“Ai nói phu thê phải quấn quýt mới gọi là tốt? Trên đời này có nhiều đôi phu thê vốn tâm ý tương thông, ý hợp tình hòa. Cô nương biết gì về sự khoái hoạt của tri âm tri kỷ, cao sơn lưu thủy?”

Thức Mê nghe đến đó suýt bật cười thành tiếng:
“Ta còn nhớ cái dáng vẻ đau đến chết đi sống lại của ngài, đến đàn cũng đánh không nổi lại còn mong tri âm tri kỷ gì! Còn ta thì chẳng thích khách sáo, ta thích quấn quýt, thích dây dưa. Hứng lên thì phải đòi lấy, ngài chỉ cần chịu đựng một chút là xong.”

Câu nói này lập tức khiến hắn nhớ đến nỗi nhục trong nghị sự đường sáng nay – đến giờ vẫn chưa nuốt trôi được.

Hắn đã nếm đủ cái thứ nàng gọi là “quấn quýt” rồi. Đến mức thắt lưng hắn như bị bẻ gãy làm đôi. Tướng quân Trọng Kỵ Vệ trình lên bản đồ trạm trú, hắn vừa mở tấm họa ra thì để trượt tay rơi xuống đất. Theo phản xạ hắn muốn cúi người xuống nhặt nhưng mới cúi đến nửa chừng liền đứng không nổi. Cả đại điện bất ngờ im phăng phắc… Hắn cả đời này chưa từng trải qua chuyện mất mặt như vậy. Mà đám võ tướng thô hào ấy lại còn lộ ra vẻ “hiểu rồi, hiểu rồi” trên mặt.

Tướng quân Hổ Khôi Vệ tính tình chất phác nhất còn cả gan nói:
“Thái sư vừa động phòng, nghỉ ngơi hai ngày mới phải… nhìn xem, vẫn còn mang thương mà lo công vụ…”

Nam nhân sau đêm tân hôn để lại thương tổn là chuyện thường tình – nhưng bị trêu chọc công khai thế này thì thật là sỉ nhục. Hắn chỉ cần liếc mắt một cái thì những kẻ ấy lập tức câm như hến, nhưng hắn biết bọn họ sẽ ngầm cười trong lòng cả tháng. Đây chính là cái nàng gọi là “như keo như sơn”?

Hắn cố rút tay ra nhưng không thành.

Thức Mê nhất quyết chống đối:
“Thái sư Lục Mẫn định lạnh nhạt ta sau khi cưới sao?”

Hắn nhíu mày:
“Nương tử không tự đi được à?”

Hắn càng làm bộ cao ngạo thì Thức Mê càng thấy chướng mắt. Cái vẻ dịu dàng tạm thời khi nhờ nàng cứu mạng, hắn tuyệt nhiên xem như chưa từng tồn tại.

Không được, nàng phải giúp hắn nhớ lại.

Thế là Thái sư phu nhân buông tay, bật người lên ôm luôn cổ hắn, cười toe toét:
“Đẻ ta kiểm tra một chút xem thân thể Thái sư giờ đã rắn rỏi hay vẫn còn yếu ớt.”

Với cái trọng lượng ấy của nàng thì thắt lưng đang đau của hắn quả thật là chịu không nổi, hắn buột miệng “a” một tiếng, giữa chân mày hiện rõ nét nhăn vì đau.

Thức Mê ngạc nhiên:
“Ta nặng vậy sao? Hay là ngài đang làm bộ?”

Hắn gắng gượng chống đỡ, hít sâu một hơi rồi mới nói:
“Đêm qua đồng sàng cộng chẩm, hình như thắt lưng ta… bị trặc rồi.”

Lúc này nàng mới hiểu ra, hơi ngượng ngùng buông chân xuống đất.
“Không ngờ Thái sư lại yếu nhược đến vậy, ngủ một giấc thôi mà cũng trặc lưng. Rõ ràng đêm qua chúng ta chẳng làm gì cả, an nhiên ngủ như thế, sao ngài lại bị thương được?”

Sắc mặt hắn xám như tro tàn. Chuyện xảy ra trong nghị sự đường khiến Thái sư đương triều chẳng dám nhớ lại.
“Là cô…”
Chợt nhận ra mình nói hơi lớn, hắn hơi điều chỉnh tâm tình, cố giữ giọng bình tĩnh:
“Là cô nương, tối qua ép ta đến tận mép giường. Ta phải dốc sức giữ mình không ngã xuống, sáng dậy mới phát hiện lưng mỏi eo đau… tất cả đều do cô nương ban tặng.”

Chân tướng đúng là khiến người ta khó xử. Thật lòng mà nói, Thức Mê cũng định tư coi lại bản thân, nhưng chỉ vì thế thôi mà hắn đã trẹo lưng thì đúng là khó hiểu đến mức khiến người ta hoài nghi.

“Nào, vào phòng ngồi đi, nghỉ ngơi một chút.”
Vừa dẫn đường, nàng vừa lén quan sát sắc mặt Lục Mẫn. Cuối cùng nàng không nhịn được, nhẹ giọng chỉ ra vấn đề:
“Xem ra lực ở thắt lưng và lưng trên của ngài hơi kém. Không biết là do đổi thân xác hay vốn dĩ đã yếu sẵn. May mà tối qua chúng ta chỉ tương kính như tân, nếu mà làm phu thê thật sự… ngài mà hỏng nửa chừng thế này, e là ta sẽ chê cười ngài cả đời mất.”

Đúng là đổ thêm dầu vào lửa. Thái sư tức tối:
“Cô…”

Thức Mê vội vàng xuống nước:
“Được rồi được rồi, là ta nói bậy nói bạ, Thái sư đừng để bụng. Hay chúng ta nói chuyện chính sự đi. Ngày mai ta có thể đến gặp các phu nhân dự hôn lễ không? Hôm qua vì quá bận rộn mà ta tiếp đãi không chu đáo. Nếu có thể gặp lại thì ta muốn mở yến tiệc cảm tạ bọn họ, cũng coi như bù lại việc không thể vào xem lễ động phòng.”

Một cô nương chưa từng trải sự đời, bỗng dưng nói chuyện nhân tình thế thái, thật đúng là khác lạ. Thôi thì tạm xem như nàng thật lòng muốn sống yên ổn.

Lục Mẫn đáp:
“Ngày mai là lễ động thổ Thần đạo, người đến dự đều là quan viên, ngoài cô nương ra thì sẽ không có nữ quyến. Nếu cô nương đã có suy tính, có thể gửi thiếp mời đãi tiệc. Trên Thần đạo của Phù Dao phương Đông có đạo sĩ mở tiệm thức ăn chay và trà quán – đồ ăn thức uống đều đủ cả, cũng đủ để cô nương làm tròn lễ số.”

Nhắc đến Phù Dao phương Đông thì nơi ấy vốn khiến nàng ngưỡng mộ đã lâu, chỉ là gần ngay trước mắt mà vẫn chưa có dịp dạo chơi.
Nghe phu lang nói vậy, nàng kinh ngạc:
“Người tu hành cũng buôn bán ư?”

Thái sư sớm đã quen chuyện đó, bình thản nói:
“Người tu hành cũng phải ăn cơm gạo, sao lại không thể làm ăn? Không chỉ buôn bán, họ còn phải nuôi cả gia đình. Một thê hai ba thiếp, chẳng nhẹ gánh hơn thương hộ nơi thành thị đâu.”

Vậy thì thế đạo này… vẫn chưa loạn đến tận cùng nhỉ.
Thức Mê lẩm bẩm:
“Ta nhớ tiền triều có quy định rõ ràng rằng người tu hành không được lấy vợ, càng không thể nạp thiếp. Sao đến Yến triều lại chẳng ai quản nữa?”

Lục Mẫn xoay người ngồi vào ghế tròn. Thắt lưng đau nhức khi nãy chẳng biết có phải là vừa rồi nàng ấn xuống một cái mà “khớp” trở lại hay không, nhưng dường như đã đỡ hơn nhiều.

Hắn thản nhiên hỏi ngược:
“Có quy định thì đã sao? Quản được người lại chẳng quản nổi lòng. Sau khi Yến triều lập quốc, pháp độ ấy còn chưa kịp ban ra thì người trong Thần đạo đã vội vàng cưới vợ lập thất rồi.”

Thấy nàng đơ người, có vẻ như có chút thất vọng thì hắn lại đổi giọng:
“Kẻ thật lòng hướng đạo vốn vẫn có, chỉ là không ở Phù Dao phương Đông mà thôi. Có lẽ họ ở sâu trong núi, hoặc tận cùng chân trời. Ở nơi Thần đạo đó cô nương cứ xem như chốn du ngoạn. Ta nghĩ cô cũng chẳng có ý tìm đạo nhân luận đạo đâu. Cảm tạ khách khứa hôm qua một phen rồi lên cao ngắm cảnh, coi như không uổng chuyến đi này.”

Thức Mê thở dài:
“Ta chỉ bực mình cái hạng phàm tục ấy lại lấy danh tu đạo ra để lừa tiền hương nến của khách nhân.”

Thái sư khẽ cười:
“Muốn tham ngộ thì đừng nên bước vào Phù Dao phương Đông. Đi sai đường rồi, chớ nên trách người khác.”

Hắn quá mức thông suốt, lại thiếu chút mềm mại trong lời nói. Nàng chẳng muốn dây dưa thêm với hắn, liền chắp tay sau lưng bước đi.

Lục Mẫn cũng chẳng để tâm, một mình ngồi trong tiền sảnh rộng lớn.
Ngoài cửa lớn mở rộng, ánh hoàng hôn như dòng thác đỏ đổ xuống. Thái sư Lục Mẫn cứ ngồi như thế rất lâu, nhìn ánh sáng phai nhạt từng chút một, lòng cũng như chìm dần xuống đáy biển.

“Đống thưởng ngân kia, sau khi nàng mang về… định tính toán thế nào?”
Giọng hắn nhẹ như gió, giống lời tự sự, nhưng chắc chắn là nàng nghe được.

Thức Mê bực bội đáp:
“Thái sư hối hận rồi sao? Muốn đòi lại à?”

Hắn nhìn ra ngoài cửa, đôi mắt hơi nheo lại:
“Cô nương cứ giữ lấy đi. Về sau nếu trong phủ có chỗ cần dùng thì ta sẽ từ cô nương mà lĩnh lại.”

“Không được.”
Nàng cầm dải lụa đỏ trong tay, giơ lên trước mặt hắn lắc lư hai cái:
“Tiền đã tặng ra ngoài sao có chuyện thu về? Càng thu thì sẽ càng loạn, sổ sách cũng chẳng tính nổi. Huống hồ mỗi tháng ngài đều có bổng lộc, bao nhiêu đó chi dùng trong phủ đã đủ rồi. Tiền của ta, ngài đừng mơ động vào.”

Chỉ một cú xoay tay, tất cả liền biến thành tiền của nàng.
Hắn đưa mắt đánh giá nàng từ trên xuống dưới, như nhìn thấu bản tính ham tiền đến tận gốc rễ:
“Miệng thì nói mọi sự đều giản lược, ta còn tưởng cô nương thật chỉ cần một tờ hôn thư. Ai ngờ đến lúc động vào vàng bạc thì cô lại không hề mềm tay nửa phần.”

Sở dĩ nàng tham tiền, cũng là có đạo lý riêng của nàng:
“Trước khi thành thân, cái gì ta cũng không lấy. Sau khi thành thân rồi thì của ngài chính là của ta. Đã bái đường xong cả rồi, sao ngài còn chưa hiểu?”

Lời nói ấy quả thật không chê vào đâu được.
Vị Thái sư xưa nay giỏi lý luận, lần này cũng hết đường phản bác, chỉ đành ủ rũ đưa tay xoa sống mũi.

Một nghìn lượng hoàng kim, hắn đau lòng rồi phải không? Đau lòng là đúng. So với ân tạo ra giả nhân thì giá ấy còn là quá rẻ.

Thức Mê thì ung dung thản nhiên, lấy từ đống đồ mang theo ra một cây xẻng nhỏ rồi cầm dải lụa đỏ bước thẳng ra ngoài.

Ban đầu nàng định tìm gốc cây hải đường, nhưng chẳng thấy cây đâu. Trong viện lại có một cây ngô đồng. Nàng đứng dưới gốc cây nhìn lên: tiết trời xuân đã dần ấm áp, đầu cành đang nhú ra những mầm non tạo nên cảnh tượng bừng bừng sức sống.

Nàng nhớ mẫu thân khi xưa rất thích loại cây này, bà nói thân cây thì duyên dáng, cành lá lại kiều diễm. Nghe nói lúc nàng vừa tròn một tháng tuổi, trên đầu nổi rất nhiều nốt đỏ, cũng chính nhờ lấy rễ ngô đồng nghiền thành bột lại hòa thêm hùng hoàng, từng chút từng chút một mà chữa khỏi.

Ấy là một trong những ký ức hiếm hoi về thuở nhỏ của nàng.
Trên núi Linh Dẫn vốn không mọc loài cây này, nàng đã đi hết phía trước lẫn phía sau núi cũng tìm chẳng thấy. Không ngờ trong phủ Cửu Chương lại trồng một cây – biết đâu thật sự có liên quan đến mẫu thân nàng.

Nàng ngẩng nhìn hồi lâu, suýt quên mất mình đến đây để đào hố. Đuôi mắt bỗng liếc thấy bóng người cao lớn áo đen đang đi đến, nàng mới giật mình hoàn hồn.

Hắn nghiêng đầu hỏi:
“Nương tử đang làm gì?”

Thức Mê đáp:
“Đếm lá, xem một đêm xuân phong vừa thổi qua đã khiến bao nhiêu mầm non nhú lên.”
Nói rồi lại cau mày chê:
“Thái sư sao cứ mặc mấy bộ đồ màu này? Đen sì sì, trông chẳng khác con quạ già.”

Hắn cũng cùng nàng ngẩng đầu nhìn cây, giọng điệu nhàn nhạt:
“Đây là công phục của Tam công.”

Thức Mê hơi nghẹn nhưng vẫn không cản trở nàng tiếp tục bắt lỗi:
“Công phục của Tam công đúng là khó coi.”

Tính khí nữ lang đến đi bất chợt, hắn cũng không định chấp nhặt.
Cúi đầu nhìn dải lụa đỏ trong tay nàng, lúc này hắn mới nhớ bên trong là chiếc ngọc quyết bị hắn vô ý làm vỡ đêm qua.

Chuyện ngọc vỡ đến giờ hắn vẫn còn áy náy, thầm tự trách bản thân sơ suất.
Đã là vật đem bọc lụa mà chôn thì có thể trừ tai giải họa, vậy chẳng cần để nàng tự tay làm.
Hắn nhận lấy xẻng, từng nhát từng nhát bắt đầu đào.

Thức Mê thấy hắn đào cái hố tròn trịa lại sâu hoắm, ngạc nhiên nói:
“Gần một thước rồi, ngài định chôn ngọc… hay định chôn người?”

Hắn không nói gì, chỉ làm hiệu bảo nàng đặt đồ xuống.
Thức Mê liền đem mảnh ngọc đã bọc kỹ đặt xuống đáy hố.
Cả hai nghiêm túc đến mức, nếu lúc này có ai đột nhiên đi ngang qua thì tám phần mười sẽ tưởng bọn họ đang xử lý một việc tang thương hệ trọng nào đó.

Thức Mê ngắm nghía tay nghề của Lục Mẫn, không khỏi tán thưởng:
“Ngài rất giỏi đào hố.”

Hắn đáp nhạt như gió:
“Năm mười hai tuổi ta từng chôn một con lừa.”

Nàng lập tức bừng tỉnh:
“Thảo nào cái hố này lại mang theo mùi vị… đời truân chuyên.” Tiếc rằng hắn chẳng có mấy phần truân chuyên như nàng nghĩ.

Hắn bình thản nói:
“Ta ngoài việc là con của trắc phu nhân, mẫu thân mất sớm, thì còn lại chẳng kém ai. Phụ thân chỉ có hai con trai, đại huynh chiếm ưu thế nhưng ta dựa vào bản sự cũng dần được phụ thân ưu ái. Năm ấy ta vào kinh dự khoa khảo, đang đi giữa đường thì con lừa lăn ra bệnh mà chết. Ta không nỡ để nó phơi xác nơi hoang dã, bị dã thú gặm xé, nên thuận tay chôn xuống… chẳng uổng công nó theo ta một chặng đường dài.”

Thức Mê bật cười khẩy:
“Đám thư sinh các ngài đúng là nửa mùi nửa vị. Ta đoán ngài chắc chắn còn viết cho nó một bài tế văn, kiểu như: ‘Nếu kiếp sau làm người, nhớ đến tìm ta.’”

Những chuyện làm thời niên thiếu, nghĩ lại sao chẳng buồn cười?
Hắn quả thực đã từng viết tế văn cho con lừa đó, nhưng nay chẳng mong nó trở lại tìm mình nữa.

“Nếu nó thật sự đầu thai thành người, tốt nhất đừng đến gần ta. Ta không nhận ra nó, lỡ nó vô tình chạm phải nghịch lân của ta… thì nó khó mà bảo toàn mạng.”

Vừa nói, hắn vừa gạt đất phủ lên, lấp dần miệng hố.

Một vị tướng quân dựng nên công thành, dưới vó ngựa là vạn bộ xương khô. Những mạng người từng bị vùi lấp trong ngọn lửa chiến chinh bởi bàn tay hắn, nào chỉ dừng lại ở con số “vạn” người ấy? Trong đó, phần lớn còn là dân chúng nước Ngu.

Trong lòng nàng cuộn lên từng cơn sóng dữ, nhưng bị nàng kìm nén thật sâu.

Nàng vẫn khẽ khàng trêu hắn:
“Sinh ra làm lừa, chỗ nào cũng khổ, lúc nào cũng có thể bị roi vụt. Hay để nó vào chùa làm một con… tăng lừa đi. Có đậu mà ăn, lại không bị người đánh.”

Hắn đứng thẳng dậy, buông tay áo xuống:
“Tăng lừa… Nữ lang lại đang mượn chuyện mà nói bóng gió sao?”

Thức Mê đáp tỉnh bơ:
“Không có. Trong chùa những vị hòa thượng từ bi, không đánh mắng súc vật.”

Hắn lại bật cười lạnh:
“Không đánh, nhưng giết lừa mới là đâm vào tim. Kiếp này làm lừa, ấy là do đời trước phạm tội tày đình. Bao nhiêu khổ nạn ăn vào thân cũng không được kêu oan – tất cả đều là nghiệp báo.”

Nàng há miệng muốn phản bác mà không tìm được lời để nói nên thôi đành bỏ qua.
Người này tuy lạnh lẽo vô tình, nhưng lại quá mức tỉnh táo.
Mà tỉnh táo đôi khi lại rất đáng sợ – tỉnh táo để sống, tỉnh táo để chết, nên càng thấm thía mọi đau đớn của thế gian hơn kẻ mê muội.

Có lẽ chính hắn cũng thấy câu chuyện hơi nặng nề. Thấy nàng trầm ngâm, hắn liền hé ra nụ cười nhạt:
“Tối nay bắt đầu luyện tửu lượng đi. Ngày Thánh thọ phải vào Thượng Đô, e rằng không thoát khỏi phải uống xã giao. Nữ lang nguyện cùng ta uống một chén không?”

Thức Mê lập tức đáp:
“Được thôi. Chỉ là tửu phẩm của ta không tốt, lỡ say rồi… sợ rằng sẽ động tay động chân với ngài.”

Ánh mắt hắn lưu luyến dừng trên người nàng. Nàng còn tưởng rốt cuộc hắn cũng đã khai ngộ, ai ngờ đợi mãi, đợi mãi đến khi hắn thản nhiên buông lời vô tình: “Ta có một sợi Phược Long Đằng, lâu rồi chưa dùng. Nếu cô nương không phản đối, có thể trói trước… rồi hãy uống.”

Chỉ có kẻ ngốc mới không phản đối! Đây là lời đề nghị quái quỷ gì vậy!