Chương 20: -

8089 Chữ 12/12/2025

 

Giải phu nhân nhìn kỹ thân hình trên bàn, nước mắt lập tức ứa ra – gương mặt ấy chính là bà ở độ tuổi ba mươi. Đường nét rõ ràng, chân thật, ngay cả nốt ruồi giữa hai hàng mày cũng giống y hệt.

Thiếu nữ hỏi:
“Thế nào? Phu nhân có muốn làm một cuộc giao dịch… chuyển vào sống trong thân thể mới tinh này không?”

Thời xuân sắc đã qua vốn là điều khiến nữ nhân đau lòng nhất. Giải phu nhân lại là người quyết đoán, nghe nữ tử trước mặt nói vậy, trong lòng bà lập tức hạ quyết tâm:
“Ta từng nghe ở Trung Đô có Yển sư, tạo ra thân thể người giả giống hệt như thật. Hôm nay được thấy tận mắt, quả nhiên là mở mang tầm nhìn. Cô nương cứ nói điều kiện. Chỉ cần ta làm được thì quyết sẽ không thoái thác.”

Người sống mạnh mẽ, lời nói cũng thẳng thắn. Thiếu nữ nhẹ giọng đáp:
“Ta tặng phu nhân tuổi xuân, phu nhân tất sẽ hồi báo cho ta bằng tài vật quý giá. Ở Bất Dạ Thiên này, người đến kẻ đi nhiều vô số kể, cho nên hai thứ không thiếu nhất chính là nhân mạch và bạc tiền – vừa khéo chúng đều là những thứ ta đang cần. Chỉ là tạm thời chưa dùng đến, phu nhân cứ ghi nợ trước sau này trả cũng chưa muộn.”

“Chỉ như vậy thôi sao?” Giải phu nhân vẫn không khỏi cảnh giác.

Thiếu nữ gật đầu dịu dàng:
“Chỉ như vậy.”

Giải phu nhân nói:
“Ta làm thương nhân, quen cân đo được mất. Dẫu cho là tiền bạc hay quyền thế thì so với việc được sống thêm một lần nữa cũng chẳng đáng là gì. Mọi sự cứ theo như ý cô nương mà làm.”

Thiếu nữ tỏ vẻ rất hài lòng:
“Tốt lắm. Vậy thì không nên chậm trễ. Giờ bắt đầu thôi! Phu nhân… có sợ đau không?”

Một người phụ nhân sống mấy chục năm, lưng đau, chân mỏi, bệnh vặt quanh năm, đã sớm chán ghét chính thân thể này. Nam nhân có chí, còn nữ nhân chẳng lẽ không? Chỉ tiếc năm tháng vô tình mà tuổi xuân lại chẳng thể níu, thời gian còn lại của bà cũng chẳng còn nhiều. Nếu được làm lại, bà chấp nhận phá trời khoét đất chứ nào quản gì chút đau đớn cỏn con.

“Chỉ cần ta còn có thể tỉnh lại.”
Bà buông hai tay xuống, trầm giọng nói:
“Còn lại… xin cô nương cứ tùy ý.”

Ngay sau đó, một bát thuốc được mang vào. Nước thuốc đen như mực, chẳng biết bên trong chứa thứ gì. Giải phu nhân đưa tay nhận lấy, bà ta không do dự nửa khắc liền ngửa đầu uống cạn. Thiếu nữ bên kia càng thêm tán thưởng:

“Ta thích nhất chính là sự quyết đoán của phu nhân!”

Còn những chuyện sau đó… bà hoàn toàn không nhớ. Chỉ biết rằng khi bà ta mở mắt ra lần nữa thì đã thấy một chiếc gương đồng lớn treo trên đầu. Bà chớp mắt nhìn hình ảnh phản chiếu trong gương, liền sau đó một thân thể trẻ trung cũng chớp mắt theo. Bà thử mở miệng, hình bóng trong gương cũng hé môi.

“Phải chờ thêm ít lâu.”
Thiếu nữ tựa bên cạnh, giọng mềm như tơ:
“Đợi khi tâm của phu nhân hoàn toàn an vị trong thân thể mới thì lúc ấy có thể ngồi dậy, ăn uống như bình thường. À, ta quên nhắc trước – mỗi mười ngày, phu nhân phải đến gặp Yển sư để tiếp mệnh một lần. Nếu chậm trễ thời gian… thì khó mà sống tiếp được. Nhưng phu nhân cũng không cần lo, nếu bận quá không tới được thì chúng ta có thể sai yển nhân mang thuốc đến cho bà.”

Giải phu nhân hiểu rõ. Nửa câu nói sau tuy không nói ra nhưng ý tứ đã quá rõ ràng. Đó là nếu bà ta muốn sống thì phải biết nghe lời.

Làm ăn mà, từ trước đến nay đều như vậy. Đã có cầu thì phải có trả. Giao dịch công bằng, vốn chẳng có gì khó hiểu.

Sau hai ngày dưỡng sức, Giải phu nhân mới có thể nói chuyện. Câu đầu tiên bà hỏi:
“Cô nương là… Yển sư sao?”

Thiếu nữ mỉm cười:
“Ta chỉ là người truyền lời. Hôm nay phu nhân biết ta, nhưng lần sau gặp lại… phải xem như người không quen. Xin hãy nhớ kỹ.”

Giải phu nhân vốn là người thông minh, chỉ cần nàng dặn dò đôi chút bà ta liền đã hiểu.

Thiếu nữ chắp tay sau lưng, nghiêng người quan sát kỹ gương mặt mới của bà rồi nhẹ giọng nói:
“Thân thể này, bắt đầu từ ngày phu nhân tỉnh dậy sẽ lão hóa như người thường. Phu nhân đã trộm được thêm hai mươi năm tuổi xuân, đủ để làm những việc năm xưa bản thân chưa làm xong. Nếu một ngày nào đó phu nhân vẫn cảm thấy chưa đủ… thì cũng có thể đổi thêm lần nữa. Chỉ là cái giá phải trả sẽ lớn hơn, nặng nhẹ thế nào… phu nhân tự cân nhắc.”
Nói đoạn nàng đứng thẳng dậy:
“Những gì ta có thể làm đều đã làm. Phần còn lại phải dựa vào phu nhân. Từ nay mỗi ngày thân thể này sẽ càng hòa hợp hơn, cho nên phu nhân cứ yên tâm.”

Thấy nàng sắp rời đi, Giải phu nhân vội hỏi:
“Cô nương đi đâu? Sau này ta tìm cô bằng cách nào?”

Thiếu nữ có đôi mắt sáng lém lỉnh, nàng nháy mặt nhẹ một cái rồi nhoẻn miệng cười:
“Ta phải dành thời gian đi thành thân. Đã đáp ứng người ta rồi mà.”
Nàng xoay người, giọng ngân lên như gió nhẹ:
“Phu nhân không cần tìm ta. Nếu ta cần… tự nhiên sẽ đến tìm phu nhân.”

Ngày hai mươi sáu đã định, nhất quyết không thay đổi. Chỉ là từ ngày hôm trước đã bắt đầu chuẩn bị.

Giải phu nhân được đưa trở lại phủ, thân xác cũ thay ra không thể đốt – kẻo tai mắt của phủ Cửu Chương sẽ lần ra. Vậy thì đem chôn ở đâu đó, dưới các gốc hoa là hợp nhất, coi như làm phân bón cho hoa nở.

Mọi việc an bài xong xuôi, tiệm may trong phố cũng gửi đến bộ hỉ phục đã đặt trước. Thức Mê cũng làm ra vẻ long trọng, tự mình khoác lên bộ áo tân nương đỏ rực, trên đầu đội đầy đủ mũ hoa và châu quan tinh xảo. Đám thị nữ theo hầu cũng được trang ዚ໐àኪဌ theo, ai nấy đều mặc y phục rực rỡ, trên đầu cài hai bông hoa lông đỏ, trông rộn ràng hệt như ngày cưới thật sự.

Mọi người nhìn nhau, chẳng ai hiểu vì sao phải vui… nhưng cứ vui trước đi rồi mọi chuyện tính sau.

A Lợi Đao soi bóng mình trong chum nước, chỉnh lại khăn đầu rồi hỏi:
“Cô nương gả vào phủ Cửu Chương, có phải cũng mang theo Yển sư không?”

Thức Mê đáp:
“Chờ ta ổn định chỗ ở xong, sắp xếp được một nơi an toàn rồi sẽ lén đưa Yển sư vào.”

Nhiễm Điển hơi lo lắng:
“Chúng ta phải sống chung với người ngoài. Lỡ đang nói chuyện nửa chừng mà ‘rắc’ một tiếng ngã lăn ra, thì biết tính sao đây?”

Thức Mê nói:
“Vậy thì đừng nói chuyện với người ngoài nữa. Lần trước ta đến đó, vị tham quan của nội phủ đã sắp cho ta một gian lầu. Ta đã đuổi sạch những người trong đó đi, cả tòa lầu giờ để trống, sau này chỉ mình chúng ta ở đó.”

Nhiễm Điển nghe vậy thì rất lấy làm hài lòng:
“Cửu Chương phủ chẳng khác nào một Ly Nhân Phường lớn hơn. Vẫn là mấy chúng ta sống quây quần, chẳng cần phải giao thiệp với thiên hạ.”

Thức Mê gật gật liên tục:
“Đúng đấy. Chỉ đổi nơi ở mà thôi. Nếu có ai truy tìm tung tích Yển sư thì chắc chắn không ai ngờ chúng ta lại dọn vào phủ Cửu Chương. Người đời có câu ‘dưới ánh đèn chính là chỗ tối nhất’, nơi càng nguy hiểm kỳ thực lại càng an toàn.”

Nhiễm Điển lại hỏi:
“Như vậy… có liên lụy Thái sư không?”

Câu hỏi ấy hỏi hay đến mức khiến Thức Mê đột nhiên sững người ra – hóa ra nàng chưa từng nghĩ đến điều này.

Thiếu nữ ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi ung dung kết luận:

“Không gọi là liên lụy, phải gọi là cùng nhau gánh rủi ro. Mong rằng hắn có năng lực tự bảo toàn. Nếu không… thì chúng ta chỉ còn cách bỏ hắn lại rồi kéo theo người khác thôi.”

Có lẽ do sống ẩn dật từ nhỏ nên ngoài đám yển nhân đã ở với nàng bao năm, nàng không có tình cảm gì đặc biệt với người đời. Cả Lục Mẫn… trong mắt nàng cũng chỉ là kẻ có thể lợi dụng. Cái gọi là thành thân chẳng qua là muốn danh chính ngôn thuận đưa những thứ của Ly Nhân phường vào phủ Cửu Chương, tiện thể ban cho mình một thân phận đứng đắn.

Những chiếc rương trong mật thất được khiêng ra từng cái một, nàng cẩn thận kiểm tra lại. Trên đời này chẳng ai dám cả gan lục soát của hồi môn của Thái sư phu nhân – những vật liệu nàng thường dùng cứ thế đường hoàng được chuyển vào Cửu Chương phủ. Có những lúc nàng phải tự khâm phục trí thông minh của chính mình.

Đếm đi đếm lại, lặt vặt cũng đến mười sáu rương đồ. Số còn lại thì quan trọng hơn, mở nắp ra thì toàn là tay với chân. Dù sao yển nhân thông thường đều là những kiểu lắp ghép linh hoạt, chẳng cần đến kỹ nghệ tinh xảo.

Như Giải phu nhân trước đó, cái khó là ở phần gương mặt phải tốn nhiều công sức. Bọn họ bắt bà ta về nhiều ngày như vậy chính là để quan sát kỹ từng đường nét, rồi mô phỏng lại dung mạo lúc bà ba mươi tuổi. Còn phần thân và tứ chi thì na ná hình dạng thiếu nữ kia, đợi sau khi thay tim vào thì sẽ dần dần khôi phục lại. Bởi vậy mới có kế hoạch bảy ngày: chứ nếu muốn vẽ lại từ đầu đến chân cho thật hoàn chỉnh thì ít nhất cũng phải hai ba tháng trời.

Tốt rồi, mọi thứ đều đã sẵn sàng.

Niêm phong lại, rồi buộc dải lụa đỏ to bản bên trên. Hai mươi mấy chiếc rương được đặt giữa sân, nhìn qua cũng giống như thật. Giờ thì chỉ cần đợi Thái sư đến rước dâu nữa là xong.

Sáng sớm hôm sau, Thức Mê bò dậy khỏi giường, thấy A Lợi Đao đứng thẳng tắp trên bậc thềm như một con gà trống, ánh mắt không chớp nhìn về hướng Đông.

“Ngươi đứng một đêm rồi sao?” Thức Mê dụi mắt hỏi.

A Lợi Đao chống nạnh gật đầu:
“Trời sáng rồi. Người đến đón dâu bao giờ mới tới?”

Thức Mê phì cười – đồ ngốc này còn sốt ruột hơn cả tân nương.
Nàng bước ra sân đưa tay ngắt một cành liễu rũ bên giếng, chấm vào chén muối xanh rồi chà lên răng, giọng nói mơ hồ vang lên:
“Còn sớm lắm. Gọi là ‘hôn lễ’ thì dĩ nhiên phải đợi đến chạng vạng mới đến rước. Rương hòm được sắp xếp cả đêm, công lao của ngươi cũng không nhỏ đâu. Giờ có thể đi nghỉ một lát.”

yển nhân thường nghỉ ngơi bằng cách trở lại trong rương, nhưng khi đã có linh thức thì họ chẳng mấy khi muốn quay vào nơi đó nữa.

A Lợi Đao liền ngồi luôn xuống đất, cố chấp nói:
“Ta phải tiếp tục canh.”

Thức Mê bất lực, còn đang định hỏi sáng nay có cần uống canh gà không thì Nhiễm Điển và Diễm Điển đã bưng ra hai chữ hỷ lớn bằng giấy đỏ, một trái một phải dán lên cửa chính.

Như thế là đã đủ thành ý cho một hôn lễ rồi. Ít nhất thì bầu không khí cũng rất đúng điệu, những thứ cần có đều đã có. Việc tiếp theo chẳng còn gì, vẫn là tiếp tục tưới hoa, quét dọn trong phòng cho sạch sẽ.

Với Thức Mê mà nói, chuyện đáng trông đợi nhất của việc thành thân… chính là sau khi vào Cửu Chương phủ sẽ có cơm nước tươm tất để ăn, không cần ngày ngày phải uống canh gà nữa – đúng là phúc lớn trời ban.

Chờ trông mãi cho đến khi trời sụp tối, cuối cùng nơi đầu ngõ cũng vang lên tiếng náo động. Tiếng vó ngựa, tiếng chiêng mở đường, cùng âm thanh ồn ào huyên náo của đoàn rước dâu hòa lại thành một khối vang lên rầm rộ tràn vào khắp con hẻm.

Nhiễm Điển và Diễm Điển mở cửa lớn ra. Lục Mẫn đội khăn mũ chỉnh tề, đứng nghiêm phía ngoài bậc cửa. Sau lưng hắn là một chiếc kiệu hoa dát vàng tinh xảo tráng lệ, được trang trí bằng dây lụa đủ màu sắc, đúng chuẩn nghi thức thành thân đường hoàng.

Còn bên nhà gái thì giản lược hơn nhiều, thẳng thắn đến mức khiến người ta không kịp phản ứng. Không có màn làm bộ dạng kiểu cách luộm thuộm, không có ai dỗ dành tân nương, càng không có cảnh khóc lóc khi xuất giá. Quan khách từ đoàn đón dâu khi bước vào cửa còn hơi ngơ ngác – tân nương dường như vô cùng vừa ý với cuộc hôn sự này. Nàng đã khoác lên lễ phục chỉnh tề, tay cầm quạt đuôi công che mặt, đứng ngay giữa sân viện chờ người đến đón.

Chẳng thấy cha mẹ, chẳng có trưởng bối hay thân nhân nào xuất hiện. Chỉ gọn ghẽ trao đổi hôn thư rồi nàng bước lên kiệu, ngồi vào hôn liễn không chút do dự.

Kiệu xe quay đầu, đoàn rước dâu bắt đầu đánh trống chiêng inh ỏi trở về Cửu Chương phủ. Những nghi thức tại nơi Cửu Chương phủ thì đầy đủ không chê vào đâu được – ở Trung Đô nơi Thái sư tọa trấn, hôm nay là ngày Thái sư thành thân cho nên cả thành đều phải hưởng ứng.

“Phụt” một tiếng, pháo hoa từ mặt đất bùng lên, đèn lồng trong cả thành đồng loạt được thắp sáng. Trong khoảnh khắc ấy, toàn bộ thành trì như đang sôi trào. Từng chùm, từng dãy, từng mảng pháo hoa nở tung trên bầu trời, che phủ ánh đêm bằng những màu sắc rực rỡ như biển lửa.

Trong ký ức của Thức Mê thì lần cuối nàng thấy nhiều pháo hoa như thế, là mười bốn năm về trước. Đó là một đêm Thượng Nguyên tại Bạch Ngọc Kinh. Khi ấy nàng mới chỉ sáu tuổi, là cô bé con dựa vào lòng nhũ mẫu, ngẩng cao khuôn mặt non nớt ngắm nhìn để cho pháo hoa soi sáng rực trong đôi ánh mắt. Năm tháng như tên bắn, thời gian như thoi đưa. Giờ đây ánh lửa rực rỡ ấy lại in trong đôi mắt nàng lần nữa, nhưng chỉ là vì nàng tùy tiện gả bản thân đi.

Trọng An thành từ hai năm đổi chủ, chưa từng được ăn mừng náo nhiệt như vậy. Một màn pháo hoa rực rỡ tiễn nàng xuất giá – coi như nàng cũng mang đến cho người dân thành này chút hân hoan ngắn ngủi.

Kiệu hoa chậm rãi tiến bước. Đoàn nghinh thân dài không thấy điểm cuối. Họ đi rất lâu, băng qua mấy con đường mới vào trước Cửu Chương phủ. Cánh cổng uy nghi đã mở rộng sẵn, thảm đỏ như lụa trải suốt mặt đất như mây là lượt.

Kiệu hoa dừng lại, cửa nhỏ mở ra. Thái sư đích thân bước lên đón, dưới ánh đèn rực rỡ, hắn đưa bàn tay trắng trẻo rắn chắc về phía nàng.

Lục Mẫn hai mươi bảy tuổi, có lẽ vì sống trong vinh hoa từ nhỏ nên trông hắn còn trẻ hơn tuổi thật. Đặc biệt là trong bộ huyền đoan lễ phục, từ trên xuống dưới đều tinh tế như được chạm trổ – một vẻ tuấn mỹ sắc sảo đến gần như lạnh lẽo.

Thức Mê không hề ngập ngừng, càng không có lấy nửa điểm thẹn thùng, nàng đưa tay trái đặt vào lòng bàn tay hắn. Tay phải vẫn cầm quạt che mặt. Từ cổng chính đi đến đại sảnh còn khá xa. Cánh tay mỏi là một chuyện, nhưng điều khiến nàng phiền chán nhất là mặt quạt chắn hết tầm nhìn, làm cho nàng bước đi khó khăn vô cùng.

Mấy lần nàng vô thức hạ tay xuống suýt nữa đã để lộ đôi mắt sau chiếc quạt, thì Lục Mẫn đã không nói lời nào, nhẹ đỡ cánh tay nàng lên, buộc nàng phải nâng quạt lên lại.

“Còn bao lâu nữa?”
Nàng hạ giọng hỏi, có chút mất kiên nhẫn.

Hắn nói rất nhanh: “Nhiều nhất là nửa nén hương. Trên điện khách khứa đông đúc, nếu cô nương chống đỡ không nổi thì mất mặt cũng chỉ là cô nương mà thôi.”

Lời nói của hắn khiến Thức Mê lập tức khó chịu, thầm nghĩ người này thật biết phủi sạch quan hệ. Đã không thể làm mất mặt hắn, tất là nàng phải cố chống chiếc quạt cho vững. May mắn thay, hỷ nương vừa dứt khúc khước phiến ca, liền phủ chiếc khăn voan đỏ lên thay nàng.

Giữa một trận huyên náo hân hoan, nàng được dìu bước hành lễ phu thê. Lễ thành xong, trước mắt nàng toàn là những đôi quan hài chồng chéo, khiến nàng nhìn đến hoa cả mắt. Chưa kịp định thần đã bị đưa vào động phòng.

Cũng may trong phòng chẳng có ai, ngay cả tiết mục “xem tân nương” cũng được miễn bỏ. Thức Mê giật khăn voan xuống, đứng dậy muốn đi tìm người. Vừa bước tới cửa thì nàng đã trông thấy A Lợi Đao và mọi người từ hành lang đi tới. Nhìn thấy nàng, bọn họ lập tức bẩm: “Rương hòm đã chuyển hết lên lầu, khóa trong gian phòng phía Tây rồi.”

Ba người họ chuẩn bị bước vào, nhưng còn chưa kịp tới gần thì đã thấy viên tham quan Nội phủ dẫn theo thị nữ hớt hải chạy đến. Đúng lúc A Lợi Đao nhấc chân lên thì ông liền quát lớn: “Dừng lại!”

A Lợi Đao bị quát đến choáng váng, kinh ngạc chỉ vào mũi mình: “Ngươi gọi ta ư?”

Viên tham quan đáp phải, lại nói vì hắn là người do tân phu nhân mang tới nên không muốn nói lời khó nghe. Chứ nếu đổi lại thành kẻ khác thì hẳn đã bị kéo xuống mà đánh cho một trận rồi. Bởi chuyện động phòng làm sao có thể để nam nhân nào khác ngoài Thái sư bước vào, dù là người nhà bên ngoại thì cũng phải giữ quy củ.

A Lợi Đao thật sự không hiểu nổi: “Ta là người hầu của Nữ quân mà.”

May mà trước khi bái đường Thức Mê đã dạy bọn họ đổi cách xưng hô rồi. Chứ nếu để người ngoài nghe thấy họ gọi nàng là “A Mê” thì lúc ấy mới thực là vô lễ, chẳng trên chẳng dưới chẳng chủ ngữ vị ngữ gì cả.

Viên tham quan cố nặn ra một nụ cười: “Người hầu theo hầu cũng không được. Đêm động phòng cấm ngoại nam bước vào.” Vừa nói y vừa phất tay gọi hai thị tòng đến.

“Đưa vị này đến gian dưới nghỉ ngơi, cho hắn ít điểm tâm bánh trái để lót dạ.”

Người yển tộc vốn không có nhu cầu ăn uống, nhưng nếu bị ép ăn thì cũng chẳng sao. Lúc bị đưa đi, A Lợi Đao vẫn còn giãy giụa, y chỉ vào Nhiễm Điển và Diễm Điển, hỏi: “Vậy tại sao họ được ở lại?”

Tham quan đáp: “Họ là nữ lang. Nữ lang được đặc miễn, có thể lưu lại hầu tân nương.”

A Lợi Đao bị kéo đi, Nội phủ tham quan gần như khẳng định tên hạ nhân này đầu óc có vấn đề. Ông lại quay sang tân phu nhân, cúi người hành lễ: “Nữ quân sao lại đứng ngoài cửa? Là đang đợi Chủ quân ư? Chủ quân còn đang thiết yến cùng khách khứa. Một lát nữa sẽ vào cùng Nữ quân cử hành lễ giao bôi.”

Thế là Thức Mê lại bị thị nữ đỡ quay trở vào trong, còn chẳng kịp phân trần đã bị phủ khăn voan lên lần nữa, bị ép ngồi ngay ngắn bên mép giường.

Nội phủ tham quan và các thị nữ vẫn chưa lui xuống, nàng chỉ đành ngồi thẳng lưng mà chịu đựng. Khó khăn lắm mới nghe được tiếng bước chân từ xa vọng lại, nàng lập tức nhận ra đó là Lục Mẫn.

Khi khăn voan được vén lên, Thức Mê mới thở phào một hơi. Lục Mẫn xoay người ngồi xuống cạnh nàng. Từ nét mặt mãn ý của vị tham quan Nội phủ thì cũng đủ thấy đôi tân lang tân nương này quả thực xứng đôi – là một đôi bích nhân khiến người nhìn cũng phải vui lòng.

Nhiều nghi thức được giản lược, nhưng việc quan trọng nhất thì không thể bỏ qua. Hai nửa hồ lô được nối bằng một sợi tơ hồng, được dâng tới trước mặt họ. Trong bình hồ lô là rượu, người lễ quan cất giọng chúc tụng, mời họ bắt đầu đối ẩm.

Hai người liền quay mặt đối diện nhau, trước khi uống còn khẽ chạm hồ lô vào nhau. Thức Mê uống một hơi cạn sạch, cảm thấy giác bị cay đến bỏng họng. Nhiễm Điển đứng bên cạnh lập tức nhón lấy một miếng mứt quả từ khay, nhanh như chớp nhét vào miệng nàng.

Có thể nói là những người mà tân nương mang đến đều kỳ quặc theo cách riêng, nhưng mọi người sau phút sững sờ cũng đành quen dần. Lễ quan đọc thêm vài lời cát tường rồi dẫn mọi người lui ra.

Trong phòng lúc này chỉ còn lại bốn người. Nhiễm Điển và Diễm Điển hỏi: “Chúng ta có cần tránh mặt chăng?”

Thức Mê và Lục Mẫn đều không để tâm.

Trong mắt Lục Mẫn, nhóm người yển nhân cũng giống như bàn ghế trong phòng, chẳng khác gì đồ vật. Điều duy nhất hắn làm là căn dặn vị nương tử đang ngồi bên màn trướng: “Cửu Chương phủ không giống như Ly Nhân phường. Ở đây mỗi lời nói và hành động phát ra đều có vô số ánh mắt dõi theo. Cô nương hãy quản cho tốt người của mình, đừng để ai nắm bắt được nhược điểm, bằng không khó mà sống yên ổn lâu dài.”

Thức Mê khẽ cười: “Ta tự nhiên sẽ quản thật tốt. Nhưng đêm tân hôn mà ngài lại cảnh cáo thê tử như vậy thì chẳng phải là quá mức sao?”

Nghe nàng nói vậy gương mặt hắn thoáng hiện vẻ ngượng ngập. Thực ra hắn chưa từng nghĩ mình sẽ kết hôn một cách quá đỗi đột ngột như vậy. Nhưng sự cũng đã rồi, việc phải làm là bảo đảm an toàn cho cả hai.

Hắn đáp: “Chỉ là lời nhắc thường lệ mà thôi. Nữ lang hiểu được ý ta là tốt rồi.”

Thức Mê liên tục gật đầu: “Hiểu, hiểu. Vậy ngài còn phải ra ngoài tiếp khách ư? Tan yến rồi có quay lại không?”

Hắn nói sẽ không quay lại: “Nữ lang có thể nghỉ ngơi sớm.”

“Không được.” Thức Mê nói, “Đêm tân hôn mà ngài không trở về thì ngày mai cả thành Trọng An sẽ truyền khắp nơi rằng tân nương ngủ phía Đông, tân lang nằm phía Tây. Khi ấy ta – Thái sư phu nhân – chẳng phải sẽ mất hết thể diện sao? Sau này làm sao bước chân ra ngoài được nữa?”

Ánh mắt Thái sư nhìn nàng thoáng qua chút phức tạp, tựa hồ trong đầu hắn đang cuộn lên vô vàn suy nghĩ, tranh đấu một hồi lâu.

Thức Mê lại thản nhiên khuyên giải: “Dù gì cũng chẳng phải chưa từng nằm chung. Thái sư hà tất làm khó mình?”

Lời nói bình thường mà qua miệng nàng lại thành ra ám muội. Lục Mẫn im lặng một lúc, đoạn quay người bước ra ngoài.

Nhiễm Điển và Diễm Điển lập tức chồm tới hỏi nhỏ: “Hai người từng nằm chung thật sao?”

Thức Mê đáp vô cùng tự nhiên: “Đúng thế. Suốt quãng đường đi – về Bạch Ngọc Kinh, hầu như đều ngủ cùng nhau cả.”

“Ồ.” Diễm Điển thốt lên, “Vậy là ngươi sắp sinh hài tử rồi.”

Thức Mê lập tức lườm nàng: “Ngươi sao cứ nghĩ đến chuyện sinh con thế! Chỉ đơn giản là ngủ vài giấc thôi, lấy đâu ra hài tử.”

Cái “Đơn giản ngủ vài giấc” của nàng đối với người yển nhân mà nói thì lại là chuyện rất khó hiểu. Ngủ là việc của riêng một người, nhưng hai người khác giới lại ngủ chung, nhất là nam nữ cùng một giường thì đã hội đủ mọi điều kiện để sinh con. Giờ chưa sinh chẳng qua là thời điểm chưa tới, chứ đến khi thiên thời chín muồi rồi thì hài tử tự nhiên sẽ xuất hiện thôi.

“Nếu vậy…” Nhiễm Điển hỏi, “tối nay Thái sư có trở về không?”

Thức Mê đáp: “Nếu hắn không quay lại động phòng thì ta sẽ sang tận phòng ngủ của hắn tìm. Nhất định phải để mọi người biết ta và hắn là phu thê thật sự, chứ không phải thành thân cho có lệ.”

Nhiễm Điển gật đầu lia lịa: “Vậy chúng ta tìm A Lợi Đao về, rồi tự mình đi ngủ. Tuyệt đối không quấy rầy hai người.”

Quả là biết điều, biết lui biết tiến. Bọn họ ngày càng lanh trí hơn, nhưng Thức Mê vẫn phải dặn đi dặn lại: “Nơi này khác hẳn Ly Nhân phường, không phải muốn là có thể chui vào hòm ngủ. Ở đây phải ngủ trên giường, ít nhất là khi có người nhìn vào.”

Diễm Điển gượng cười: “Vậy… nếu họ phát hiện chúng ta nằm cứng đơ trên giường không nhúc nhích, thì có bị dọa sợ không?”

Đây đúng là vấn đề nan giải. Tuy đã dặn thị tòng không được tùy tiện vào lầu nhưng ai dám chắc sẽ không xảy ra bất trắc. Cuối cùng bàn qua tính lại, thì họ vẫn phải đặt Đại mộc hòm bên cạnh giường – đối với yển nhân thì chiếc hòm ấy quan trọng như tính mệnh, là nơi duy nhất giúp họ dưỡng sức phục hồi.

Về việc A Mê sắp làm gì tiếp theo thì Nhiễm Điển và Diễm Điển hoàn toàn không rõ. Nói chung đêm động phòng hoa chúc dường như có rất nhiều việc. Hai nàng không giúp gì được, đứng một hồi cũng chẳng biết làm gì nên đành đi tìm A Lợi Đao.

May thay A Lợi Đao không đi xa lắm. Vị tham quan muốn dẫn y đến nơi dành cho thị giả ở, nhưng y đã thẳng thừng từ chối. Là người theo hầu thì phải có giác ngộ của người hầu, nếu rời A Mê xa quá mười trượng thì chính là thất chức.

“Quả là người Nữ quân mang đến, không giống chúng ta chút nào.” Một thị giả mỉa mai.

Có kẻ còn vỗ ngực xuýt xoa: “Hắn bước vào động phòng, suýt hù chết ta.”

“Mà này, nữ tử thành thần mà mang người hầu nam theo cùng, chẳng lẽ đó là phong tục của vùng Lao Âm Quan sao?”

Họ xôn xao bàn tán sau lưng nhưng chẳng làm A Lợi Đao tổn thương mảy may. yển nhân sinh ra để chiến đấu, nhưng khi chưa rút chiếc chốt sau tai thì lại hiền lành vô hại, trí tuệ chỉ ngang chừng đứa trẻ sáu bảy tuổi. Chỉ cần không có ai chỉ tay mắng vào mặt thì hầu như chẳng hiểu người ta nói gì.

Không trò chuyện với người ngoài chính là cách tốt nhất để tự bảo vệ bản thân. A Lợi Đao cứ thế ăn hết miếng bánh này đến miếng khác, mãi cho đến khi Nhiễm Điển và Diễm Điển tìm thấy y, thì y mới chịu đi theo các nàng quay lại.

May mà có tòa lầu riêng trong Cửu Chương phủ hoàn toàn thuộc về họ. Thái sư chọn nơi này làm nơi động phòng cũng là để tiện cho bọn họ. Họ có thể tự do đi lại giữa các phòng, vác theo những chiếc hòm lớn, tùy ý tìm cho mình một nơi ở hợp ý.

Thức Mê đứng bên cửa sổ, nhìn bọn họ lần lượt bước vào những gian phòng đối diện. Tòa lầu riêng này được treo đèn kết lụa khắp nơi, dù không một bóng người qua lại vẫn chẳng hề vắng lặng.

Bên ngoài lờ mờ vọng đến tiếng cười nói từ phía xa. Trong thành Trọng An có sáu vệ, mỗi vệ đều có vệ tướng quân và tả hữu đô úy. Võ tướng vốn quen chinh chiến, khí lực hơn người nên giọng nói càng vang dội. Với thể trạng Lục Mẫn bây giờ, vốn không còn chịu được rượu mạnh, không biết liệu hắn có thể bình yên mà trở về hay không.

Tiếng pháo nổ đùng đùng không ngừng, từng chùm pháo hoa ngoài thành vẫn nở tung rực rỡ như chẳng hề tiếc tiền bạc. Thức Mê kéo một chiếc ghế lại, chống cằm ngồi bên cửa sổ ngắm nhìn. Phần lớn thời gian nàng ưa yên tĩnh, nhưng đôi khi sự náo nhiệt như thế này… hình như cũng không đến mức khiến người ta chán ghét.

Nàng ngắm nhìn hồi lâu, pháo hoa cũng dần thưa, tiếng động ngoài thành cũng bắt đầu lắng xuống. Thời gian đã muộn, e rằng đã sang giờ Hợi.