Chương 1: :

4849 Chữ 12/12/2025
Kết quả tìm kiếm

 

Ngày hai mươi ba tháng Giêng, mây dày che kín mặt trời, mặc dù Đông đã sắp tàn nhưng lớp băng lạnh vẫn chưa kịp tan đi.

Từ nơi phía xa, núi Âm phủ tuyết dày đặc, chỉ có chân núi là còn lộ ra một dải xanh xám hẹp dài.

Giữa làn sương mờ ảo từng hàng lọng đỏ xếp thành đội ngũ, men theo đường quan đạo uốn lượn tiến vào thành. Càng nhìn đến gần từng tán lọng lại càng rõ nét. Tất cả được tụ hợp lại nơi trung tâm thành trì bao quanh ngọn tháp cao ba trượng. Trên ngọn tháp, những dải phướn dài viết đầy kinh văn đang đung đưa trong gió, như đôi bàn tay bất lực dang ra giữa đất trời của vô số vị thần minh.

Bầu trời dày đặc một màu xám bạc. Những dãy lầu cao âm u hòa với tháp phướn đỏ thẫm, cùng biển người dày đặc đan xen tạo thành một cảnh tượng vừa trang nghiêm vừa quỷ dị.

Đây là ngã rẽ của lịch sử.

Vào hai năm trước, người dân Trung Đô có nằm mộng cũng chẳng ngờ rằng, chỉ một lễ hội tổ chức để cầu mưa thuận gió hòa ngày nào nay lại biến thành một pháp hội siêu độ cho hai mươi ngàn vong linh.

Hai mươi vạn – con số lớn biết bao.

Trọng An thành, thủ thành cuối cùng của Bạch Ngọc Kinh ở Thượng Đô. Hai mươi vạn đại quân Tiền Ngu đã đóng quân tại đây. Khi quân Yến ồ ạt tràn vào công phá thành thì kẻ tử trận lẫn người bị bắt đều chôn tại nơi chiến trường cổ. Dân trong thành bị quân Yến tiếp quản, bọn họ không có sức phản kháng, chỉ còn biết mượn dịp lễ hội mà âm thầm gửi gắm nỗi thương tâm.

May mắn thay, sau cơn biến loạn thì ngày tháng cũng dần yên ổn. Giờ đây mỗi khi nhắc đến trận đại chiến năm đó đều giống như đang nói về chuyện kiếp trước.

Khi nên náo nhiệt ,ọi thứ vẫn phải náo nhiệt – như tiếng tụng kinh, tiếng cười nói, tiếng rao bán của hàng quán vang vọng khắp nơi, thỉnh tዚ໐ảኪဌ còn có vài tóm trẻ con cầm ná bắn chim chạy vụt nhanh qua.

“Bộp!” Một âm thanh lên, đã trúng ngay mục tiêu. Người bị bắn trúng ôm đầu mắng lớn:
“Con nhà ai thế hả! Muốn lấy mạng người à, đánh vỡ đầu người ta rồi!”

Vài tên Vũ hầu tuần phố quất roi đuổi theo, giọng quát lớn:
“Còn dám bắn người nữa là sẽ bị phạt hai con dê đấy!”

Sau khi đuổi được lũ trẻ đi thì hai Vũ hầu tuần bắt đầu bàn bạc với nhau lát nữa sẽ ăn ở đâu, vừa quay lại chốt tuần thì bất chợt thấy một người nam nhân cao lớn trên ngực có vết máu đỏ thẫm đang chậm rãi đi qua trước mặt.

Hai vị Vũ hầu tuần sững sờ bất động – với vết thương như vậy, thêm một con mắt còn bị dập nát, đáng lẽ phải đau đến chết đi sống lại mới đúng chứ. Thế nhưng tên nam nhân ấy lại còn cầm cờ nhỏ trong tay, dáng vẻ ung dung bình thản bước giữa đám đông như không có chuyện gì.

Hai Vũ hầu nhìn nhau, vội chạy theo chặn lại:
“Này, này, ngươi có cần đến y quán không?”

Người nam nhân chớp một bên mắt hỏi lại:
“Đến đó làm gì?”

Câu hỏi ngây ngô của hắn khiến hai Vũ hầu nhìn nhau kinh ngạc:
“Ngươi không thấy đau à?”

Người kia ngẩn ra một lát rồi như chợt hiểu, đưa tay lên sờ vào hốc mắt trống rỗng:
“Chỉ là một vết thương nhỏ thôi, không đau.”

Hai Vũ hầu hoàn toàn ngây dại trước câu trả lời của hắn – tên điên này mất cả con mắt mà chỉ là vết thương nhỏ sao?

Người nam nhân phủi áo rời đi, bỏ lại hai kẻ kia chỉ biết nhìn nhau lắc đầu:
“Hẳn là một kẻ điên.”

Lời nói của họ vừa dứt đã thấy một vị đồng liêu từ xa chạy tới, bộ dáng hớt hải nói:
“Xảy ra chuyện lớn rồi! Ở Đông thị bắt được hai tên yêu nhân, mặt mũi giống hệt với tướng lĩnh Tiền Ngu đã tử trận. Đô úy nhìn thấy liền lệnh cho chém đầu cả hai, thì mới phát hiện ra trong ngực hai kẻ đó trống rỗng không có gì cả. Hai tên đó chỉ là giả nhân! Thượng tướng ra lệnh bắt đầu tra xét toàn thành, sợ rằng còn nhiều kẻ khác đang ẩn giấu trong thành. Nếu hai người các ngươi có gặp phải thì lập tức bắt giữ, chớ để bọn chúng chạy thoát!”

Hai Vũ hầu giẫm chân kêu trời:
“Khi nãy có một tên đáng nghi đi ngang qua đây!”
(caĶ꘥oทիo.coጢ)

Họ quay đầu nhìn lại thì chỉ thấy bóng người kia đã rẽ qua gốc đại du, đi thẳng vào khu Lì Nhân phường.

Còn đợi gì nữa mà không đuổi theo!!

Đám binh lính vội tập hợp người lại rồi ào ạt chạy vọt vào trong cổng phường. Nhưng Ly Nhân phường là khu phố phường rộng lớn bậc nhất Trung Đô. Nơi đây nổi tiếng với các ngõ ngách nằm dọc ngang đan xen chằng chịt, biết đi đâu để tìm tung tích của gã nam nhân kia đây.

Kêu trời là vậy nhưng bọn họ vẫn tản ra ráo riết truy tìm. Cuối cùng, đội Vũ hầu tuần chỉ còn cách gõ cửa từng nhà, bắt gặp hộ nào khả nghi thì liền xông vào lục soát, chẳng buồn phân trần đúng sai.

Khổ nỗi cả đội đã chạy khắp nửa phường mà vẫn tay trắng. Vị Trung hầu dẫn đầu đội tức đến nỗi râu tóc dựng cả lên, trầm giọng quát lớn:
“Người đâu? Kẻ đó đã chui đi đâu mất rồi?”

Hai Vũ hầu bị mắng đến mức cúi rạp người, may sao có kẻ tinh mắt phát hiện một giọt máu khô trong khe đá xanh. Cả đội lập tức phấn chấn hẳn lên, liền bắt lần theo dấu vết tìm tới trước cổng lớn của một tòa phủ đệ.

Ngẩng đầu nhìn lên thì chỉ thấy đây là một tòa phủ đệ có khí thế uy nghi, biển ngạch trên cửa đề ba chữ lớn: “Lục phủ” – hiển nhiên chẳng phải hạng tầm thường gì.

Có người tiến lên bẩm báo:
“Hôm nay là ngày lễ nên chắc phường chính không có ở đây, chẳng rõ lai lịch phủ này ra sao.”

Vị Trung hầu hừ lạnh:
“Cần gì hỏi han! Nếu trong đó có yêu nhân thì đây chính là ổ yêu quái. Sao phải hỏi gốc hỏi rễ làm gì!”

Nói rồi vị Trung hầu tung chân đá mạnh lên cánh cửa khiến nó bật mở rộng ra, liền sau đó bảy tám tên Vũ hầu ùa vào làm trong phủ gà bay chó sủa, náo loạn cả lên.

Đôi mắt sắc như ưng của Trung hầu lướt qua từng khuôn mặt người trong phủ, giọng nói như sét nổ:
“Ở đây có chứa chấp kẻ bị bắn mù một mắt kia không?”

Đám nô tỳ trong sân hoảng sợ lắc đầu liên hồi:
“Không… không có, thưa quan gia.”

Lời khai ấy sao có thể đáng tin. Trung hầu nhếch mép cười lạnh:
“Giữa ban ngày mà đóng cửa im ỉm – chẳng phải là đang che giấu chuyện gì mờ ám ư!”

Quan phủ một khi đã sinh nghi thì dân muốn rửa sạch tội cũng chỉ đành ngoan ngoãn hợp tác. Câu nói của Trung hầu vừa dứt thì bọn Vũ hầu đã đặt tay lên chuôi đao, chuẩn bị lục tiến lên soát từng ngóc ngách.

Song khi đoàn người còn chưa kịp vào đại sảnh thì nơi bậc thềm đã xuất hiện một người ngăn họ lại.
Đó là một nam nhân kዚ໐ảኪဌ độ ngũ tuần, gương mặt của y trông vô cùng nghiêm nghị, từng chữ nói ra nặng tựa đá rơi:
“Thời thế quả thật thay đổi rồi! Ngay cả phủ đệ của ta mà cũng dám xông vào tra xét sao?”

Trung hầu tcዚ໐áኪဌ thấy chột dạ, hẳn là người trước mặt này có lai lịch không nhỏ.

Gã thu giọng lại, lời nói đã ôn hòa hơn:
“Tại hạ là Trung hầu của Vũ hầu phủ Tây thị, phụng mệnh quan trên đi lùng bắt kẻ quấy nhiễu pháp sự. Hôm nay là ngày lễ An Tán, không biết trong quý phủ có ai ra phố dự lễ, hay có người nào bị thương do bọn trẻ bắn ná chăng?”

Ngữ khí của Trung hầu đã kiềm chế hết mức, song đối phương vẫn giữ thái độ lạnh nhạt, đáp cộc lốc:
“Tại hạ họ Lục, tên Không Sơn. Hôm nay chỉ là lễ An Tán, nhà ta không ra ngoài, cũng không ai bị thương.”

Trung hầu chau mày, cho rằng y đang cố tình chối:
“Cớ gì người trong phủ không dự lễ? Dân Tiền Ngu ai nấy đều tin Phật Bỉ, chẳng lẽ quý phủ lại khác người?”

Không khí bỗng chốc trở nên căng như dây đàn, chỉ chực chờ một cái siết nhẹ để bật nổ tung. (caĶ꘥oทիo.coጢ)
Lục Không Sơn vẫn im lặng không đáp. Trong đôi mắt ông ẩn chứa khí phách hiên ngang, sâu thẳm vô ngần, song lại trống rỗng đến mức khiến người ta cảm thấy lạnh sống lưng.

Trung hầu nổi giận, định cá ලჩếቲ lưới rách thì từ trong nhà bất ngờ vang lên giọng nói thanh thoát, uyển chuyển mà khéo léo:
“Xin tướng quân bớt giận. Chúng ta mới dọn đến thành Trọng An từ Quan Lao Âm hồi tháng trước. Chúng ta vốn không phải người Tiền Ngu nên không dự lễ An Tán.”

Mọi người ngoảnh lại nhìn theo giọng nói ấy thì thấy một thiếu nữ độ chùng mười bảy, mười tám tuổi bước ra từ cửa trong.
Người thiếu nữ mặc váy lụa xanh biếc, bên ngoài khoác áo ngắn màu đàn trầm viền chỉ vàng. Mái tóc búi mây, điểm cài chiếc trâm vàng tròn đơn giản – trông không diêm dúa mà quý phái, từng cử chỉ đều toát ra vẻ ôn hòa, ấm áp, như vầng nắng vàng dịu rọi qua năm tháng.

Đám võ quan thô kệch lập tức thu lại khí thế, vô thức chắp tay trước bụng, giọng hạ thấp đi:
“Thì ra là người Quan Lao Âm… Phu nhân cùng gia quyến đến Trung Đô là để buôn bán, hay là…”

“Để nương nhờ thân thích.”

Thiếu nữ mỉm cười, dịu dàng nói:
“Nhà ta họ Lục, cùng dòng cùng tổ với Thái sư. Gia phụ là thúc phụ ruột của Thái sư Lục Mẫn.”

Cả đội võ quan nhất thời ngẩn người, còn gã Trung hầu thì hoảng hốt thốt lớn:
“Thật sao?”

Thiếu nữ hơi sững người lại, ánh mắt nàng trong suốt như làn nước thu, tựa như có điều bối rối.
Khác với đôi mắt vô hồn của Lục Không Sơn, đôi mắt của nàng sáng như ngôi sao rơi vào đáy giếng cổ – chỉ cần nhìn lâu là lòng người thấy chao đảo, như bị kéo dài mãi mãi trong khoảnh khắc ấy.

Chỉ một ánh nhìn thôi, đã là vĩnh viễn.

Một thiếu nữ đẹp đến vậy hẳn là chẳng biết nói dối.

Gã Trung hầu gãi mũi, có phần nửa tin nửa ngờ:
“Thái sư phụng chỉ trùng tu Trung Đô, vẫn còn đang ở Trọng An thành. Đã là thân thích thì hẳn quý phủ sớm có dịp gặp mặt rồi chứ?”

Lục Không Sơn vẫn im lìm, chỉ liếc nhìn sang con gái. Thiếu nữ đành cất lời, do dự đáp:
“Nhà ta mới tới đây hơn tháng, nghe nói Thái sư bệnh nên chưa tiện quấy rầy ngài.”

Gã Trung hầu liền cau mày:
“Thái sư bệnh ư? Hôm nay chính ngài vừa chủ trì lễ hội, sao lại nói là bệnh?”

Thiếu nữ mỉm cười, nụ cười mang cảm giác mơ hồ mà thâm ý, quay sang cha nhỏ giọng thưa:
“Có lẽ là chúng ta nghe nhầm chăng, A cha? Vị Tướng quân đây nói, đường huynh vẫn mạnh khỏe.”
Rồi nàng nhìn lại gã Trung hầu:
“Tướng quân đến để tra xét phải không? Hôm nay trong phủ không ai ra khỏi cửa, cũng không có ai bị thương. Nếu tướng quân không tin xin cứ vào trong mà xem.”

Một phủ đệ tự xưng là thân thích ruột của Thái sư, há có thể để một võ quan nhỏ bé tự tiện xông vào.
Gã Trung hầu tuần đành tìm cách dung hòa, ôm quyền nói:
“Lục công đây nếu là thân tộc của Thái sư thì chúng ta nào dám mạo phạm. Đợi ta về bẩm lại quan trên, rồi sẽ quay lại thỉnh an sau. Nay trong thành hỗn loạn, ta xin để lại vài người canh giữ ngoài cửa, cũng là để bảo toàn an nguy cho Lục công và tiểu thư đây.”

Lục Không Sơn vẫn giữ vẻ kiêu ngạo thản nhiên, chẳng buồn đáp lời.

Thiếu nữ thì biết lễ hơn, khẽ cúi người nói:
“Nếu Tướng quân có dịp gặp Thái sư thì xin thay ta chuyển lời – nói rằng Hà Phương thỉnh an Thái sư. Chúng ta muốn gặp Thái sư không dễ, còn Thái sư muốn gặp chúng ta thì chỉ cần hạ cố đến Ly Nhân phường – chúng ta đã quét tuyết dọn đường, luôn sẵn lòng nghênh đón Thái sư.”

Trung hầu vội vã đáp lời liền dẫn người lui khỏi Lục phủ. Gã ta đi được vài bước còn ngoảnh lại mấy lần, vừa đi vừa cảm thán:
“VỊ tiểu thư ấy chắc giống mẹ. Còn ông già kia thì cứng như đá, chết cũng chẳng nở ra nổi một đóa hoa – vậy mà lại sinh được cô con gái đẹp đến thế! ‘Hà Phương’… cái tên nghe hay thật, hợp với nàng vô cùng.”

Đám võ quan quê mùa chẳng nghĩ được từ nào hoa mỹ hơn, chỉ biết lẩm bẩm theo: (caĶ꘥oทիo.coጢ)
“Đẹp như phi thiên ở chùa Trù Quốc vậy.”

Khi gã Trung hầu tuần đã đi xa thì mấy Vũ hầu còn ở lại bắt đầu phân chia canh gác trước cửa. Thiếu nữ khẽ ra hiệu sai gia nhân đóng chặt cổng rồi quay người đi dọc hành lang dài.

Những ngôi nhà ở thành Trọng An đều xây theo kiểu kiến trúc cao lớn, hai bên được dựng vách chạm hoa, ánh sáng từ những ô gió rọi xuống mang theo vài tia nắng loang loáng nhảy múa trên mặt đất.
Nàng bước đi giữa quầng sáng và bóng tối đan xen – một nửa trong tối và một nửa ngoài sáng – chợt nhớ đến ngày đầu tiên đặt chân vào thành…

Nàng bước đi trên nền đất cháy loang lổ, chỗ nông là vết tích chiến kỳ và những chiến xa bị thiêu rụi để lại; còn chỗ sâu là nơi xác người vùi hời, để máu thịt thấm đẫm vào đất, lâu dần trồi lên thành sắc đỏ ẩn ẩn giữa tro tàn.

Cuối hành lang dài là một gian mật thất. Người thiếu nữ men theo bậc thềm đi xuống, đẩy cửa bước vào. Trong gian mật thất tối đến nỗi có giơ tay cũng chẳng thấy năm ngón. Duy chỉ có một khe sáng nhỏ từ lỗ thông khí hắt vào vách tường – mảnh sáng hẹp ấy tựa như lưỡi kiếm sắc bén chém ngang qua bóng tối.

Nàng thổi sáng ngọn hỏa trích, châm cây nến trên án lên rồi cầm đèn đi đến chiếc rương gỗ đặt trong góc. Khi nắp rương được mở ra, ánh lửa dần loang trên vai, trên cổ nàng, soi rõ dáng người ngồi trong ấy đang khẽ quay đầu lại nhìn nàng. Một hốc mắt trống rỗng cùng vết máu khô đã sậm màu, hắn nhìn nàng, ánh mắt như ẩn chứa vẻ tủi hờn.

Nàng cúi xuống, kẹp lấy cằm hắn ngó nghiêng kiểm tra:
“Quả thật bị bắn trúng ư?”

Hắn không nói lời nào chỉ đưa tay phải ra, trong lòng bàn tay là con mắt đã mất.

Thấy viên nhãn cầu vẫn còn nguyên vẹn thì nàng khẽ thở ra, nhận lấy con mắt rồi cất vào chiếc hòm nhỏ. Vừa toan đứng dậy thì vạt áo đã bị kéo lại – mấy ngón tay trắng bệch ghì chặt nơi gấu áo. Nàng đành lui hai bước, ra hiệu cho hắn chui ra khỏi rương.

Người ngoài hẳn sẽ lấy làm kỳ lạ: thân hình cao lớn như vậy sao có thể thu mình vừa trong chiếc rương chỉ chừng hai thước vuông. Nhưng đó đã là nơi trú ngụ của hắn từ lâu, như đứa trẻ bám vào vòng tay mẹ, dù có gãy lìa thì cũng phải chui vào đó để tự chữa lành.

May mà chỉ thương tổn một bên mắt. Nàng nhìn hắn từ trên xuống dưới – vai rộng, eo thon, khung xương cân xứng, quả là một hình thể tuyệt hảo. Chỉ tiếc là gương mặt kia lại quá tầm thường khiến nàng chẳng buồn nhìn lâu, liền quay đi, buông lời dặn dò:
“Ở yên trong này chớ ra ngoài. Đợi trời tối hãy đến phủ Cửu Chương – muốn bắt giặc phải bắt vua trước, hiểu không?”

Khi chưa được khai thần thức thì yển nhân chỉ có tư duy đơn sơ nhất. Hắn ngẫm nghĩ hồi lâu rồi hỏi:
“Leo tường?”

Nàng lắc đầu:
“Bên ngoài có Vũ hầu canh gác, đi đường mật đạo.”

Hai năm chuẩn bị, lối ra vào chỉ có một chính môn. Chẳng lẽ lại để kẻ khác phát hiện!

Hắn lại sờ lên hốc mắt trống:
“Gương mặt ta hỏng rồi.”

Nàng “ừ” khẽ một tiếng:
“Sau này bảo Yển sư làm cho ngươi gương mặt mới.”

Đây chỉ là diện mạo tạm thời, gương mặt này vốn chẳng thuộc về thân xác ấy.
Trên đời này, hầu hết sinh linh đều là chắp vá mà thành. Con người cũng vậy thôi! Ai mà chẳng có vài khuôn mặt cất trong túi áo, lúc cần thì liền lấy ra thay, như một sự chuẩn bị cho những bất trắc ở nhân gian.