Chương 7: Nô tỳ có thể học

4829 Chữ 12/12/2025

Ngày mừng thọ của Đại phu nhân, từ sáng sớm, tiếng pháo đã nổ rền vang khắp các ngõ hẻm.

Khương Khương đến phòng bếp dùng bữa sớm, thấy bên trong người ra kẻ vào tấp nập, khói bếp nghi ngút, ai nấy đều bận đến mức chân không chạm đất.

Tiểu Đào phụ trách nhóm lửa, từ đêm qua đã bắt đầu hâm nóng nguyên liệu, gương mặt đỏ bừng vì hơi lửa, đến mức Khương Khương tới nơi cũng chẳng nhận ra.

Quả thật, hôm nay là đại sự trong phủ. Dọc lối đi đều giăng đèn kết hoa, khắp nơi rực rỡ huy hoàng; các nha hoàn, quản sự đều thay y phục mới, sắc màu tươi tắn, sáng bừng cả phủ đệ. Chỉ là chuyện ấy chẳng liên quan gì đến Ngũ công tử.

Khương Khương trở lại viện của Ngũ công tử, mọi thứ vẫn tĩnh lặng như thường. Bên ngoài trống giong cờ mở, nhạc vang náo nhiệt, mà nơi này lại yên bình đến lạ, như thể hai thế giới khác nhau. Ngũ công tử cũng không ra ngoài thỉnh an hay chúc mừng sinh thần của mẫu thân.

Khương Khương từng âm thầm đoán: Đại phu nhân có phải là thân mẫu của Ngũ công tử chăng? Hay hắn là con thứ? Từ ngày nàng vào phủ đến nay, chỉ biết có lão thái gia, ba vị lão gia, tám vị công tử và vô số tiểu thư phu nhân… Nhưng trong suốt một tháng, chưa từng thấy ai trong số họ đến thăm Ngũ công tử.

Có lẽ, dù thân mẫu của hắn vẫn còn, thì cũng chẳng mấy khi để tâm đến người con này. Thế nên hôm nay, khi có người đến, Khương Khương mới thoáng ngạc nhiên.

Gần đến giờ ngọ, một tiểu đồng bưng khay đến trước cửa viện, trên khay phủ tấm lụa đỏ: “Nô tài là Phúc Thanh, người bên cạnh Lục công tử. Hôm nay đặc biệt mang lễ đến tặng Ngũ công tử.”

Hôm nay là sinh thần của Đại phu nhân và Lục công tử đáng lý, phải là Ngũ công tử dâng lễ chúc thọ mới đúng, sao lại thành bên kia mang quà đến?

Khương Khương xuất thân nhà bình dân, chẳng hiểu lễ nghi phú quý, mà sáng nay Đông Thanh và Thu Yến đều ra ngoài giúp việc, trong viện chỉ còn mình nàng. Nàng đành đón lấy lễ vật mang vào vừa chạm tay đã thấy nặng trĩu, hình dáng to lớn, không biết là thứ gì.

Phúc Thanh đặt lễ xong vẫn không lui, khom người ở cửa, giọng lễ phép mà ánh mắt lại mang ý khinh thường, nhìn thẳng vào người trong phòng: “Lục công tử có đôi lời, nhờ tiểu nhân chuyển đến Ngũ công tử.”

Từ Mộ Bạch ngồi giữa sảnh, tay cầm chén trà sứ men xanh, đặt xuống, giọng nhàn nhạt:
“Nói đi.”

Phúc Thanh cúi đầu, đọc rành rọt: “Lục công tử bảo: Hôm nay là sinh thần của Đại phu nhân và tiểu đệ, tiểu đệ bận theo phụ thân, mẫu thân tiếp khách, không thể đến bái kiến, mong đại ca thứ lỗi. Nhân dịp mừng tuổi, tiểu đệ không nhận được lễ từ đại ca, ngược lại gửi đại ca một món quà chúc đại ca đôi chân sớm ngày hồi phục, trùng chấn hùng phong.”

Khương Khương tuy chẳng hiểu hết mối quan hệ giữa hai công tử, nhưng nghe cũng đủ nhận ra trong lời kia toàn là mỉa mai, châm chọc.

Từ Mộ Bạch chỉ nhàn nhạt đáp: “Nói xong rồi thì lui đi.”

Phúc Thanh vẫn không chịu, nheo mắt cười: “Công tử không định xem thử món quà mà Lục công tử đặc biệt chọn tặng sao? Ngài ấy bảo, đây là vật được chuẩn bị kỹ lưỡng, nhất định hợp ý Ngũ công tử.”

Từ Mộ Bạch không giận, chỉ thuận tay nhấc tấm lụa đỏ lên. Dưới lớp vải là một bộ yên ngựa  đủ cả bàn đạp, dây cương, da thuộc sáng bóng.

Phúc Thanh cười khẽ, hành lễ: “Nô tài đã truyền đạt xong, xin cáo lui.”

Cửa viện khép lại, bầu không khí lặng đi vài phần.

Thụy Trì vừa bước vào, nhìn thấy món quà liền sờ tay lên yên ngựa, ánh mắt thích thú: “Cái này được đấy. Công tử, có thể ban cho ta không?”

“Ngươi thích thì lấy đi.”

“Thật đáng tiếc, đường may khít khao, da mềm tốt, chỉ là hoa văn không tinh tế. Lẽ ra phải dùng vàng mới hợp, đen phối kim mới sang, chứ sao lại dùng bạc. Lục công tử tặng quà cũng keo kiệt quá, vẫn kém món của ta. Thôi thì ta nhận luôn vậy.”

“Tuỳ ngươi.”

Nói rồi, Từ Mộ Bạch đẩy xe lăn đến bên bàn thư, mở sách ra xem tiếp. Bên cạnh hắn là khung cửa sổ mở rộng, gió nhẹ thổi qua, bóng người thanh nhã tựa như họa thật xứng với bốn chữ: ngọc thụ lâm phong.

Khương Khương lặng lẽ tiến đến, rót thêm trà vào chén hắn.

“Khương Khương, ngươi ở lại chăm sóc Ngũ công tử, ta đi đón Hồ đại phu.”

Dù bên ngoài đang náo nhiệt thế nào, Hồ đại phu vẫn định kỳ mười ngày một lần đến châm cứu cho Ngũ công tử. Lúc rời đi, Thụy Trì còn thật sự ôm luôn bộ yên ngựa kia theo.

Sau khi hầu hạ Ngũ công tử dùng bữa trưa, hắn nằm nghỉ trên giường. Vì Hồ đại phu sắp tới, hắn không thể ngủ trưa, Khương Khương bèn mang một chiếc ghế nhỏ ngồi bên giường, cầm quạt nan khẽ phe phẩy cho hắn. Trời đã bắt đầu oi ả, muỗi cũng nhiều hơn trước.

So với tưởng tượng của Khương Khương, tấm lòng Ngũ công tử rộng lượng hơn nhiều. Không chỉ ngoài mặt điềm đạm, mà ngay cả khi chỉ có hai người, hắn cũng chẳng hề tỏ vẻ tức giận… Vừa quạt gió, nàng vừa ngẩn ngơ nhìn đôi chân của hắn, ánh mắt dần trở nên trầm buồn.

Giữa buổi trưa yên ắng, trong lúc nàng đang nhẹ tay phe phẩy, nơi khóe mắt bỗng thấp thoáng một bóng dáng nhỏ nhắn chạy đến. “Công tử, nô tỳ ra ngoài một lát.” Khương Khương khẽ nói rồi bước ra.

Là Tiểu Đào. Nàng ôm trong tay một gói giấy dầu, nhét vào tay Khương Khương: “Hôm nay là sinh thần của Đại phu nhân, trong bếp có hai con gà bị cháy, nên chia cho hạ nhân. Muội xé một cái đùi mới cho tiểu thư, người ăn đi, dạo này tiểu thư gầy quá rồi.”

Khương Khương đưa mu bàn tay áp lên má Tiểu Đào – nóng rực.

Không phải do chạy vội, mà là bị lửa trong bếp hơ đỏ cả mặt. Khương Khương lấy tay mát của mình xoa nhẹ lên: “Còn rát không?”

“Không đâu.” Tiểu Đào cười, lại vội nhét cái đùi gà vào tay nàng: “Muội còn phải về trông bếp. Tiểu thư mau ăn đi nhé.” Nói xong, nha đầu ấy quay người chạy mất.

Khương Khương cúi nhìn chiếc đùi gà trong tay phần da cháy đã được ai đó tỉ mỉ gỡ bỏ, bên trong còn kẹp thêm một quả trứng luộc. Nàng dõi theo hướng Tiểu Đào chạy đi, hồi lâu chẳng nói gì. Một lát sau, nàng cẩn thận gói lại bằng giấy dầu, đem cất vào phòng lúc này còn bận, chưa kịp ăn.

Quay lại phòng trong, nàng ngồi xuống ghế, tiếp tục quạt cho Từ Mộ Bạch. Ánh nắng lặng lẽ rọi qua khung cửa sổ, hàng mi Khương Khương khẽ cụp xuống, vẽ một bóng mờ mảnh trên gò má.

Từ Mộ Bạch khẽ ngẩng lên, ánh nhìn lướt qua khuôn mặt nàng trong đôi mắt ấy dường như đọng lại chút cảm xúc khó gọi tên. Cảnh tượng nàng cùng nha hoàn nhỏ ấy vừa rồi, thực ra lại khiến lòng người rung động.

Cửa vang lên tiếng bước chân là Thụy Trì đưa Hồ đại phu đến. Khương Khương lập tức đứng dậy.

Quả nhiên, Hồ đại phu mang theo hòm thuốc, bước vào phòng hành lễ, rồi tiến lại bên giường Ngũ công tử. Dạo này thời tiết oi bức, nên màn trướng cũng không buông xuống nữa.

“Công tử,” Hồ đại phu vuốt chòm râu bạc, chậm rãi nói: “Tiểu tức lão phu sắp lâm bồn, thêm một tháng nữa là phải trở về. Dạo này ta đã tra qua nhiều y thư, vẫn chưa tìm được phương pháp trị liệu tốt hơn. Chỉ có phép kim châm này là còn có thể tiếp tục, biết đâu chuyển biến tốt.”

Thụy Trì hỏi: “Nếu Hồ đại phu rời phủ, ai sẽ là người châm cứu cho công tử nhà ta?”

Hồ đại phu đáp: “Nếu công tử không chê, tiểu đồng của ta có thể lưu lại trong phủ.”

Tiểu đồng nghe thế, quay sang nhìn sư phụ, vẻ mặt lộ rõ do dự nhưng vẫn im lặng không dám cãi lời.

Thụy Trì liếc nhìn cậu bé. Mấy lần trước, cậu chỉ phụ cầm hương cứu, tuổi còn nhỏ, mặt mũi non nớt, khiến người nhìn không khỏi lo lắng: “Đại phu nếu không ngại, đợi sau khi tiểu tức người sinh xong, ta sẽ đón cả nhà Hồ đại phu sang phủ, ăn ở sung túc, tuyệt đối không để ngài thiệt thòi.”

Hồ đại phu khẽ lắc đầu, vuốt râu: “Lão hủ quen đất làng quê, chỉ thường trị bệnh cho dân quanh vùng. Nhận lời tới đây là vì tấm lòng thành của Thụy hộ vệ. Chẳng giấu gì, mấy ngày nay ta vốn thấy không quen thủy thổ. Huống hồ, dù ở lại, ngoài việc châm cứu, e cũng không giúp thêm được bao nhiêu.”

“Không cần miễn cưỡng.” Từ Mộ Bạch nhàn nhạt nói.

“Thế thì…” Hồ đại phu ngập ngừng, quay sang nhìn tiểu đồng.

Cậu bé nhỏ giọng gọi: “Sư phụ…” Khẽ kéo tay áo ông, ánh mắt nài nỉ, như không muốn bị bỏ lại nơi xa lạ.

Hồ đại phu thở dài: “Trong phủ còn có đại phu nào khác chăng? Nếu có, ta nguyện đem toàn bộ phép châm kim này truyền lại.”

Thụy Trì nói: “Vậy ta đi tìm đại phu khác tới.”

Khương Khương khẽ cúi người, nhỏ giọng: “Nô tỳ có thể học được ạ.”

Hồ đại phu ngạc nhiên: “Cô nương biết y thuật sao?”

“Biết một chút.”

“Vậy cô nói xem, ở chân có mấy đường kinh lạc?”

Khương Khương nghĩ một lúc rồi đáp rõ ràng: “Có sáu đường Túc Quyết Âm Can kinh, Túc Thái Âm Tỳ kinh, Túc Thái Dương Bàng Quang kinh, Túc Dương Minh Vị kinh, Túc Thiếu Dương Đởm kinh và Túc Thiếu Âm Thận kinh. Đại phu mỗi lần châm cứu đều dùng đến kinh Đởm, tức Túc Thiếu Dương Đởm kinh.”

Hồ đại phu khẽ gật đầu, vẻ mặt không giấu được sự tán thưởng.

Đến Thụy Trì cũng thoáng sững sờ không ngờ nàng nha hoàn nhỏ nhắn này lại hiểu được đến thế. Nhưng rồi hắn lại do dự. Dù sao nàng cũng chỉ là một cô nương mới đến, mà đại phu trong phủ trước giờ đều là hạng tầm thường, chính họ đã khiến việc chữa trị của Ngũ công tử chậm trễ…

Ánh mắt Thụy Trì lặng lẽ nhìn sang Từ Mộ Bạch. Hắn khẽ gật đầu.

Thụy Trì hiểu ngay đó là lời đồng ý.

Hồ đại phu đặt hòm thuốc xuống, mở gói kim châm: “Cô nương hãy theo dõi cho kỹ. Sau này có thể thay ta châm cứu cho công tử nhà ngươi.”

Khương Khương quả là một người thẳng thắn, thậm chí có chút ngây ngô. Nàng cho rằng không ai phản đối tức là đồng ý, liền nhẹ nhàng vén ống quần của Ngũ công tử lên, cẩn thận đặt chân hắn ngay ngắn, động tác tự nhiên, không chút ngại ngần.

Không hề có ánh mắt thương hại, cũng chẳng dè dặt chỉ là tập trung chăm chú nhìn theo từng động tác của đại phu, toàn tâm ghi nhớ.

Hồ đại phu ấn lên một huyệt ở chân phải Từ Mộ Bạch: “Nhìn kỹ đây, đây là huyệt Túc Tam Lý, trị chứng tê liệt, đau nhức ở chân, hoặc tâm thần bất an. Đây là mũi kim thứ nhất.”

Khương Khương gật đầu, tay trái ấn nhẹ lên huyệt đối xứng ở chân còn lại: “Nô tỳ nhớ rồi.”

Một người dạy, một người học cứ thế qua hơn nửa canh giờ, buổi châm cứu mới kết thúc.

Thụy Trì đưa Hồ đại phu ra ngoài.

Khương Khương hạ ống quần cho Từ Mộ Bạch, rồi như sực nhớ điều gì, quay lại hỏi: “Công tử, nô tỳ có thể mượn bút, mực, giấy và nghiên của công tử được không ạ?”

Từ Mộ Bạch đáp nhàn nhạt: “Cứ dùng đi.”

“Nô tỳ tạ ơn công tử.”

Khương Khương vội tới bàn sách lấy ra bút mực, ban đầu định ngồi xuống ghế nhưng lại nhớ đó là chỗ của Ngũ công tử, bèn bước ra ngoài, ngồi xuống chiếc bàn ăn ở giữa sảnh.

Từ Mộ Bạch nghiêng đầu, ánh mắt dõi theo nàng.

Nha hoàn bên người công tử của Thái phó phủ thường phải biết chữ, song những người được phân về chỗ hắn trước kia chỉ hiểu sơ sài. Còn Khương Khương rõ ràng là người biết đọc viết. Huống chi, cô bé nha hoàn ban nãy còn gọi nàng là “tiểu thư”; lời ăn tiếng nói của nàng cũng chẳng giống thói cung kính rụt rè của nô tỳ trong phủ lớn mà lại tự nhiên, ôn hòa.

Khi nàng viết xong, Từ Mộ Bạch hỏi: “Ngươi viết gì vậy?”

Khương Khương bưng tờ giấy tới, hai tay dâng lên, khẽ cúi mình dáng vẻ nhu thuận mà thân cận, bởi Ngũ công tử vốn là người dễ nói chuyện.

Từ Mộ Bạch nhận lấy, xem qua. Chữ viết của nàng nhỏ nhắn, mềm mại, tinh tế nhưng bức họa đôi chân thì xiêu vẹo đến buồn cười.

“Ngươi chưa học vẽ bao giờ à?” Hắn khẽ cười.

Khương Khương lắc đầu: “Từ nhỏ nô tỳ chỉ học phân biệt dược liệu, chưa từng học cầm kỳ thư họa.”

“Đỡ ta dậy.” Từ Mộ Bạch nói.

Khương Khương đặt tờ giấy sang một bên, giúp chàng mặc áo, rồi mới chợt nhớ ra hỏi nhỏ: “Công tử không nghỉ trưa ạ?”

“Không cần.”

Khương Khương gật đầu, chẳng nói thêm lời nào. Sau khi mặc xong, nàng đỡ hai tay chàng đặt lên xe lăn, giúp chàng ngồi vững, rồi đẩy đến bên bàn sách.

Từ Mộ Bạch cầm lấy cây bút mà Khương Khương vừa dùng, chấm nhẹ vào nghiên mực, vẽ vài nét chẳng bao lâu, hình dáng chân người và các đường kinh lạc đã hiện rõ.

Khương Khương ngẩn người: “Công tử từng học y sao?”

Từ Mộ Bạch đặt bút xuống, mỉm cười: “Ta từng nhìn qua đôi chân của chính mình.”

Khương Khương thoáng đỏ mặt, khẽ cúi đầu. Phải rồi sao nàng lại ngốc đến thế.

Từ Mộ Bạch nhìn dáng vẻ ấy, khóe môi bất giác cong lên, ý cười mờ nhạt. Thụy Trì vừa trở lại, trông thấy cảnh ấy thì đứng khựng ở cửa, không khỏi sững người.

Không phải là hắn chưa từng thấy Từ Mộ Bạch cười. Ở bên hắn, hắn cũng hay nở nụ cười. Tuy tính tình vốn lạnh nhạt nhưng không phải người vô cảm, ngược lại, có vẻ rất hợp ý với nha hoàn này.

Thụy Trì vốn không muốn quấy rầy, đang định lặng lẽ rời đi thì trông thấy Đông Thanh quay trở lại viện.

Hai nha hoàn kia Đông Thanh và một tỳ nữ mới tới gần đây cứ đến chiều là chẳng thấy bóng dáng, rõ ràng là đã quen thói biếng nhác. May là Ngũ công tử vốn không ưa bị người hầu hạ, nên cũng chẳng buồn để tâm. Thụy Trì nghiêng người tránh lối, để Đông Thanh bước vào.

Đông Thanh khẽ nhấc váy, bước vào phòng. Trông thấy Khương Khương đứng bên cạnh Từ Mộ Bạch, hai người bầu không khí hòa hợp đến lạ, nàng thoáng sững lại, rồi cúi mình hành lễ: “Công tử. Hôm nay đại phu nhân mở yến tiệc, nô tỳ qua đó giúp một tay, giờ mới trở về.”

Từ Mộ Bạch không nói gì, chỉ khẽ liếc nàng một cái.

Cả ngày hôm nay, Lục công tử đều đi theo đại phu nhân tiếp khách, dáng vẻ chẳng khác nào đích tử. Mà nói cho đúng, đích tử của phủ Thái phó vốn nên là Ngũ công tử mới phải.

Đông Thanh là người trong viện của Ngũ công tử, lúc này trong Įòռģ khó tránh khỏi chút chột dạ.

Nhưng người ta thường nói, “người hướng về nơi cao, nước chảy về chỗ thấp”. Bên Ngũ công tử không có đường tiến thân, nàng tự nhiên phải tìm cho mình lối đi khác.

Đông Thanh lặng lẽ lui sang một bên. Khi Khương Khương bước ra, nàng nhân cơ hội đi theo, khẽ hỏi: “Nghe nói hôm nay Lục công tử có tặng lễ vật đến, là gì vậy?”

“Bộ yên ngựa.” Khương Khương đáp.

“Yên ngựa?” Đông Thanh khẽ nhíu mày, rồi chợt hiểu ra. Tặng bộ yên cho người gãy chân chẳng khác nào châm chọc. Huống hồ Ngũ công tử lại chính là người ngã ngựa mà thành tàn tật lại chọn đúng ngày mừng thọ đại phu nhân để gửi quà ấy, thật là trơ tráo.

“Hắn… có nói gì thêm không?” Đông Thanh sốt ruột hỏi, hai tay khẽ đan vào nhau.

“Không có.” Khương Khương lắc đầu, rồi như sực nhớ ra: “À, chỉ dặn tiểu tư mang lời nhắn.”

“Lời gì?” Đông Thanh khẽ kiễng chân, giọng đầy tò mò.

“...” Khương Khương nghĩ một lát rồi đáp: “Chúc Ngũ công tử đôi chân sớm ngày bình phục.”

“...”

Trong phòng, Từ Mộ Bạch khẽ giở trang sách, khóe môi nhẹ cong, một nụ cười thoáng qua nơi đáy mắt.